Trong quá trình đó, công ty và ngân hàng có thỏa thuận việc bán phát mại tài sản gắn liền với đất của công ty (đây là tài sản thề chấp tại 1 ngân hàng khác). Việc này được sự đồng ý của ngân hàng đó. Việc bán đấu giá thông qua trung tâm bán đấu giá đã có bên mua tài sản đấu giá. Bên mua và bán đã hoàn tất hợp đồng và bên mua cũng đã chuyển đầy đủ số tiền vào tài khoản của Trung tâm đấu giá tại ngân hàng B (theo thỏa thuận của các bên). Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng hai bên có xảy ra tranh chấp và bên mua kiện đòi hủy hợp đồng mua tài sản đấu giá ra tòa án huyện Y. Vậy luật sư có thể tư vấn cho tôi biết:

1. Trung tâm đấu giá và bên mua tài sản có phải người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp thứ nhất được xét xử tại tòa X hay không? vì sao?

2. Tòa Y có thẩm quyền giải quyết vụ việc mua bán tài sản đấu giá một cách riêng lẻ hay không? Hay vụ việc này phải được xét xử chung tại tòa án huyện X mà không thể tách riềng?

Xin chân thành cảm ơn luật sư! 

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn pháp luật của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi:  1900.6162

 

Trả lời: 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê. Với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Luật tố tụng dân sự năm 2004

Nghị định 17/2010/ NĐ-CP quy định của chính phủ về bán đấu giá tài sản

2. Nội dung pháp lý:

2.1. Vấn đề Trung tâm đấu giá (gọi tắt là: D) và bên mua tài sản (gọi tắt là: M) có được coi là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp thứ nhất được xét xử tại tòa X:

Vì theo những thông tin bạn cung cấp chúng tôi hiểu như sau:

Thứ  nhất: Hợp đồng giữa A - B:  hai bên đã thỏa thuận việc giải quyết nợ của A bằng việc B phát mại tài sản của A để thu hồi nợ. Với thỏa thuận phát mại tài sản thì tài sản từ đó thuộc quyền định đoạt của B.

Việc phát mại do B thực hiện. A ko có quền và nghĩa vụ liên quan đến việc thực hiện phát mại của B. Tài sản đó sau khi phát mại được bao nhiêu thì số nợ sẽ đc giải quyết bằng từng đó.
Sau khi phát mại:

  • Nếu giá trị TS < số="" nợ=""> A vẫn thiếu nợ B và vẫn có nghĩa vụ trả đến khi hết nợ.
  • Nếu giá trị TS > số nợ => B sẽ giữ lại phần giá trị bằng đúng số nợ của A, phần thừa còn lại B có nghĩa vụ hoàn trả lại cho A.

Theo quy định tại Điều 355 và Ðiều 338 Bộ luật dân sự năm 2005, việc thanh toán tiền bán tài sản cầm cố/thế chấp được thực hiện như sau: Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó.

Thêm vào đó việc ngân hàng B kiện công ty A ra tòa huyện X là để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc công ty A không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng B.

Thứ hai: Hợp đồng giữa ngân hàng B – M là hợp đồng mua bán tài sản: B đã phát mại bằng cách bán đấu giá Tài sản thông qua D (Trung tâm đấu giá).
Theo nghị định 17/2010/ NĐ-CP quy định của chính phủ về bán đấu giá tài sản

Khoản 1 Điều 25: Hợp đồng bán đấu giá tài sản

“1. Hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ chức bán đấu giá tài sản và người có tài sản bán đấu giá hoặc người đại diện của người đó.”

Điểm đ khoản 1 Điều 26. Ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản

đ) Tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa người có quyền xử lý tài sản đó theo thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh hoặc theo quy định của pháp luật với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp;"

Ở đây, D đóng vai trò là trung gian giữa B và M. B là bên cần bán, M là bên cần mua. D và B sẽ phải có một hợp đồng bán đấu giá tài sản theo đó D ở giữa, là cầu nối thông tin, tổ chức mua bán giữa B và M. Quyền và nghĩa vụ của D phụ thuộc vào các quy định liên quan đến tổ chức đấu giá và trong sự yêu cầu của B. D ko có quyền và nghĩa vụ can thiệp vào ý chí của B và M.

M chỉ là người có nhu cầu mua, thông qua D, biết được nhu cầu bán của B. Thấy hợp là mua. M (có thể) không biết và không buộc phải biết về mối quan hệ giữa A-B có liên quan tới Tài sản đấu giá.

Trong việc phát mại và đấu giá, B là người ra giá khởi điểm cho tài sản theo giá của thị trường, tìm tổ chức đấu giá, trao tài sản cho bên mua và nhận tiền khi đã có người ra giá chốt.

Sau đó việc mua bán của ngân hàng B và M có xảy ra tranh chấp kiện ra tòa huyện Y thì là để giải quyết vấn đề tranh chấp xảy ra trong hợp đồng mua bán tài sản này.

=> Theo những phân tích trên đây tranh chấp khởi kiện ở hai tòa này là khác nhau.

Thêm vào đó tại Khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự có quy định về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như sau: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” 

Như vậy, trung tâm đấu giá và người mua không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ tranh chấp thứ nhất.

2.2. Vấn đề tòa Y có thẩm quyền giải quyết vụ việc mua bán tài sản đấu giá một cách riêng lẻ vì:

Hợp đồng vay giữa công ty A và ngân hàng B và Hợp đồng mua bán tài sản giữa ngân hàng B và bên mua tài sản là 2 hợp đồng tách biệt nhau. Căn cứ theo những phân tích trên thì chúng tôi đưa ra ý kiến rằng tòa Y có thẩm quyền giải quyết vụ việc mua bán tài sản đấu giá một cách riêng lẻ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ luật tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật MInh Khuê