Vậy cho mình hỏi là:

1.Khi công ty kia ngừng kinh doanh thì hoạt động kinh doanh bên công ty mình có liên quan gì về chuyện mua hàng, hoá đơn GTGT và các thủ tục khác ?

2. Nếu người đại diện công ty TNHH đó phải thụ án 10 năm thì có được uỷ quyền cho người khác ký thay trong các quyết định cổ đông không ?

3. Công ty chúng tôi có liên quan gì tới pháp luật không? Nếu có thì thủ tục như thế nào?

4. Có nhất thiết phải yêu cầu công ty TNHH chuyển lại cổ phần cho chúng tôi không?

Mình xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.T.A

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật doanh nghiệp 2014 

2. Nội dung tư vấn:

- Thứ nhất, Theo thông tin mà bạn cung cấp thì công ty TNHH B là thành viên góp vốn của công ty A với mức vốn góp trên 50% như vậy công ty B là công ty mẹ của công ty A theo quy định tại điều 189 luật doanh nghiệp:

“ 1. Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;

b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;

c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.”

Khoản 2 điều 190 quy định: “Hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty mẹ và công ty con đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể pháp lý độc lập.”

Như vậy trong quan hệ mua bán hàng hóa và nghĩa vụ tài chính thì công ty của bạn và công ty B thực hiện độc lập.

Trường hợp công ty TNHH B ngừng kinh doanh ( do giải thể /phá sản) thì công ty B có quyền yêu cầu công ty công ty bạn ( công ty A) mua lại hoặc chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 54 Luật doanh nghiệp 2014.

“Điều 54. xử lý phần vốn góp trong trường hợp đặc biệt.

3. Phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Luật này trong các trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế không muốn trở thành thành viên;

b) Người được tặng cho theo quy định tại khoản 5 Điều này không được Hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên;

c) Thành viên là tổ chức đã giải thể hoặc phá sản.”

Mua lại phần vốn góp và chuyển nhượng phần vốn góp được quy định cụ thể tại điều 52 và 53 Luật doanh nghiệp 2014.

"Điều 52. Mua lại phần vốn góp

1. Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:

a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;

b) Tổ chức lại công ty;

c) Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.

Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua nghị quyết quy định tại khoản này.

2. Khi có yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không thỏa thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

3. Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên."

"Điều 53. Chuyển nhượng phần vốn góp

1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 52, khoản 5 và khoản 6 Điều 54 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:

a) Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;

b) Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy địnhtại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.

2. Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 49 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên.

3. Trường hợp chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp của các thành viên dẫn đến chỉ còn một thành viên trong công ty, công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và đồng thời thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng.”

- Thứ 2,  Theo thông tin mà bạn cung cấp, bạn chưa cho biết công ty B có một hay nhiều người đại diện theo pháp luật?

Theo quy định tại khoản 2 điều 13 LDN thì “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.”

Trường hợp công ty B chỉ có một người đại diện theo pháp luật mà người này bị kết án 10 năm tù thì thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty. Theo quy định tại khoản 5 diều 13 Luật doanh nghiệp 2014.

" Điều 13. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

5. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.”

Ngoài ra, với công ty TNHH hai thành viên theo quy định tại khoản 6, điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014  nếu một thành viên bị kết án tù thì  thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Như vậy, khi bị kết án tù người đại diện theo pháp luật của công ty không có quyền ủy quyền lại cho người khác bởi khi đó học đã mất tư cách đại diện theo pháp luật của công ty.

- Thứ ba, Công ty của bạn và công ty B là hai pháp nhân độc lập, việc đại diện của công ty TNHH B gặp chuyện cá nhân và bị kết án tù không ảnh hưởng gì tới công ty của bạn về mặt pháp luật.

- Thứ tư, theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 LDN thì “ Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật này”.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 điều 189 LDN nhằm trách tình trạng sở hữu chéo lẫn nhau thì : “Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.”

Như vậy công ty bạn không được quyền yêu cầu công ty B chuyển nhượng phần vốn góp cho công ty bạn trong mọi trường hợp, việc chuyển nhượng vốn góp chỉ được phép thực hiện theo các trường hợp quy định tại điều 52, 53, 54 luật doanh nghiệp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162 .

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP.