Quan hệ và hợp tác là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Chưa bao giờ chúng ta cảm nhận hơi thở của quá trình hội nhập một cách rõ ràng như lúc này. Tuy vậy, cùng với quá trình gia tăng giao thương với các nước, mức độ cạnh tranh cũng gia tăng một cách chóng mặt. Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở mức độ các doanh nghiệp mà nó còn là sự cạnh tranh giữa những ngành hàng của các quốc gia có quan hệ giao thương.

Giới lãnh đạo ở mỗi nước đang đứng trước nghịch lí: Một mặt phải phát triển ngoại thương. Nói cách khác phải thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại. Mặt khác khi hàng hóa của nước ngoài nhập khẩu quá nhiều đe dọa đến nền sản xuất trong nước thì một nhu cầu khác lại xuất hiện đó là bảo hộ mậu dịch. Dưới góc độ luật học các biện pháp bảo hộ gồm các loại sau: Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại.

Cách đây vài năm, lần đầu tiên Việt Nam đã ”nếm mùi” của cơ chế bảo hộ qua vụ kiện bán phá giá cá tra, cá ba sa với Hoa Kỳ mà Việt Nam là bị đơn. Cùng với quá trình hội nhập một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, số vụ kiện chống bán phá giá mà Việt Nam là bị đơn cũng có sự gia tăng. Gần đây giới truyền thông Việt Nam một lần nữa lại đề cập đến chuyện bán phá giá tôm, nhưng theo một cách tiếp cận khác. Thay vì ở vị thế bị đơn trong vụ kiện bán phá giá, Việt Nam rất có thể sẽ đưa vụ việc này ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO nếu quá trình tham vấn không thành công với lí do Việt Nam chịu những thiệt thòi trong việc chịu thuế phá giá do Hoa Kỳ đề ra.

Theo nguồn tin từ Tuổi Trẻ thì các vấn đề mà Việt Nam dự tính khởi kiện là:

- Phương pháp quy về 0 (zeroing) sử dụng trong tính toán biên độ phá giá

- Phương pháp ký quỹ liên tục

- Phương pháp xác định thuế suất thuế chống bán phá giá cho các bị đơn tự nguyện không được lựa chọn và việc áp dụng mức thuế suất toàn quốc

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp - 1900 6162

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Ảnh minh họa

Đáo tụng đình: Lợi hay hại?

Cũng có thể nói đây là lần đầu tiên Việt Nam chủ động tiến hành khiếu kiện một vụ việc dạng này ra trước WTO. Chúng ta có quyền làm như vậy hay không? Làm như vậy Việt Nam sẽ được gì?

Trước diễn biến của vụ việc, có nhiều tâm lí lo ngại. Dù muốn hay không chúng ta cũng phải thừa nhận Hoa Kỳ hiện là một trong những thị  trường lớn của Việt Nam. Việc khởi kiện như thế này có thể sẽ làm “mất lòng” Hoa Kỳ.

Trước hết về mặt bang giao quốc tế, không phân biệt lớn hay nhỏ về nguyên tắc các quốc gia đều có địa vị pháp lí bình đẳng với nhau. Trong WTO với tư cách là thành viên thứ 150 của tổ chức này Việt Nam hoàn toàn bình đẳng với Hoa Kỳ cũng là một thành viên của tổ chức này. Mục đích của WTO là tạo lập nên một môi trường tự do thương mại giữa các quốc gia trên cơ sở của các hiệp định có liên quan.

Mặt khác, với quá trình hợp tác một cách rộng rãi như vậy, không tránh khỏi tình trạng “lời qua tiếng lại” giữa các quốc gia thành viên. Bản thân WTO cũng dự liệu những cơ chế để giải quyết cho tình trạng này.

Như vậy, có thể thấy việc khởi kiện một quốc gia khác ra trước cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO khi có cơ sở để cho rằng quốc gia đó vi phạm quyền lợi của mình là hoàn toàn phù hợp với qui định của WTO. Hoa Kỳ và Việt Nam đều là quốc gia thành viên của tổ chức thương mại này nên một cách tất yếu cả hai đều bình đẳng với nhau trong việc khiếu kiện theo các thủ tục nêu ở trên.

Cũng cần thấy việc một quốc gia khởi kiện một quốc gia khác là chuyện hoàn toàn bình thường. Các nước EU, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…. cũng đã từng khởi kiện đối với Hoa Kỳ xoay quanh việc áp dụng phương pháp qui về 0 gây nhiều tranh cãi của nước này trong việc xác định biên độ phá giá ra trước WTO.

Việc khiếu kiện Hoa Kỳ được tiến hành trên cơ sở yêu cầu của Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP). Là đại diện một ngành hàng VASEP không có quyền khởi kiện đối với một quốc gia. Do vậy, với việc khởi kiện Hoa Kỳ, Việt Nam đã có hành động thiết thực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà sản xuất trong nước.

Việc nhà nước đứng ra bảo vệ cho quyền lợi của nhà sản xuất trong nước không phải là chuyện cá biệt. Bản thân Hoa Kỳ tiến hành vụ kiện bán phá giá đối với cá basa, tôm Việt Nam cũng là động bảo vệ nhà sản xuất và tự do cạnh tranh trong nước. Chỉ khác một điều là với quá trình gia nhập sân chơi quốc tế còn non trẻ, Việt nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong những chuyện như thế này.

Trong bối cảnh Việt Nam đang muốn có những doanh nghiệp vươn ra biển lớn, nhưng chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, việc khởi kiện này ngoài tác dụng bảo vệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản mà lớn hơn đó còn có tác dụng cổ vũ cho mối quan hệ hỗ tương giữa chính quyền và doanh nghiệp trên con đường vươn ra biển lớn.

Dưới góc độ của doanh nghiệp, nếu chúng ta thành công trong vụ việc này, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm đông lạnh có thể thoát khỏi tình trạng bán phá giá, qua đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của mặt hàng này với các nhà xuất khẩu khác tại thị trường Hoa Kỳ.

Viễn cảnh

Trong vụ việc này Việt Nam sẽ dự định khởi kiện ba vấn đề như đã đề cập ở trên. Theo như các thông tin được đề cập ở các phương tiện truyền thông, hầu như thái độ của chúng ta khá lạc quan về triển vọng của những biến sắp tới.

Còn quá sớm để có thể khẳng định bất cứ điều gì, trong phạm vi bài viết tác giả sẽ cố gắng đưa ra những phác thảo về các vấn đề mà phía Việt Nam dự định sẽ khởi kiện.

Phương pháp qui về 0

Phương pháp qui về o (Zeroing) có nghĩa là những giao dịch có biên dộ phá giá nhỏ hơn không (tức có giá trị âm) thì được qui đổi về 0. Một cách đơn giản phương pháp này được tiến hành như sau:

Ví dụ nếu một nhà xuất khẩu của Việt Nam bị Hoa Kỳ điều tra bán phá giá thực hiện 3 giao dịch xuất khẩu, trong đó có một giao dịch xuất khẩu có biên độ phá giá là 20%, một giao dịch có biên độ phá giá bằng 0 và một giao dịch có biên độ phá giá -25%

Trong đó biên độ phá giá được xác định bằng cách lấy giá bán tại thị trường Việt Nam trừ cho giá bán tại thị trường Hoa Kỳ.

 

Giá bán tại  Việt nam

Giá bán tại Hoa kỳ

Chênh lệch giá

 

 

 

 

Giao dịch 1

100

80

20

Giao dịch 2

100

100

0

Giao dịch 3

100

125

-25

 

Theo qui định của WTO khi xác định bán phá giá  phải xác định bằng con số bình quân của các giao dịch. Như vậy tổng các giao dịch trên sẽ được cộng lại để xác định có phá giá hay không. Cụ thể như sau:

Không sử dụng phương pháp zeroing, bình quân biên độ phá giá của nhà xuất khẩu này sẽ là (20% + 0% – 25%): 3 = -1,66% (với biên độ phá giá âm, tức là không phá giá)

Phương pháp zeroing thì biên độ phá giá trung bình sẽ là (20% + 0% + 0%): 3 = 6,66% (và kết quả là nhà xuất khẩu này bán phá giá). Lưu ý: vì giao dịch thứ 3 có giá trị âm (-25%) nên được qui về 0.

Theo Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 hay đôi khi còn gọi là Hiệp định chống bán phá giá (Agreement WTO on anti-dumping). Sau đây gọi tắc là Hiệp định chống bán phá giá thì việc xác định có tồn tại hành vi bán phá giá hay không phải dựa trên việc so sánh giá. Nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường thì được coi là có hành vi phá giá.

Việc so sánh giá này phải được thực hiện trên nguyên tắc công bằng. Theo đó cách xác định là phải bảo đảm rằng Thực hiện các qui định điều chỉnh sự so sánh công bằng tại đoạn 4, việc xác định có tồn tại biên độ phá giá hay không trong suốt giai đoạn điều tra, thông thường sẽ dựa trên cơ sở so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền thông thường với giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được hoặc thông qua so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch (Điều 2.4.2 Hiệp định chống bán phá giá)

Với những gì mà chúng ta vừa bàn luận về Phương pháp qui về 0 chúng ta thấy nguyên tắc này đã không bảo đảm yếu tố ”bình quân” của tất cả các giao dịch (vì những giao dịch có  biên đô phá giá nhỏ hơn 0 đã được qui về 0). Đây cũng là cơ sở để các cá nhân trong thời gian qua có thái độ lạc quan về khả năng thắng kiện của Việt Nam trong vấn đề khiếu kiện đầu tiên về phương pháp qui về 0.

Phương pháp kí quĩ liên tục

Phương pháp ký quỹ liên tục theo đó các nhà nhập khẩu phải đặt cọc trước toàn bộ số tiền tương ứng với số thuế chống bán phá giá sẽ áp dụng trong cả năm. Trong kinh doanh, vấn đề vốn là một trong những vấn đề rất quan trọng. Với việc kí quĩ một khoản tiền như vậy, các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ có tâm lí e ngại. Họ sẽ phải cân nhắc trước khả năng tiếp tục nhập khẩu tôm từ Việt Nam hay không. Hệ quả là sẽ có sự hạn chế đối với sản phẩm tôm Việt Nam trên con đường xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Hiệp định chống bán phá giá không đề cập đến vấn đề này. Cơ sở duy nhất mà các cá nhân trong thời gian qua lạc quan về khả năng thắng của Việt Nam trong vấn đề này đó là Ấn Độ và Thái Lan đã từng kiện vấn đề này và đã thắng. Rõ ràng, việc thắng kiện của Ấn Đô và Thái Lan là một tiền lệ tốt. Với tư cách là người đi sau, chúng ta có thể tiếp thu kinh nghiệm từ các vụ việc này. Nhưng còn quá sớm và chưa có đủ cơ sở để khẳng định một cách chắc chắn về khả năng thắng lợi trong vấn đề này như vậy.

Với những gì vừa phân tích, đã có những cơ sở  ban đầu để chúng ta có lòng tin khi thực hiện vụ  khiếu kiện này. Nhưng cũng phải thấy bên cạnh những tín hiệu lạc quan đó, khó khăn lớn nhất của chúng ta là chưa có nhiều kinh nghiệm trong những khiếu kiện như thế này. Như vậy, bản thân tác giả rất đồng tình với thứ trưởng Lê Danh Vĩnh khi ngài nói rằng  không khẳng định như vậy (về khả năng thắng lợi 60% hoặc 90%, cách khẳng định như vậy là vội vàng, mang tính chủ quan  và sẽ chuẩn bị thật kĩ cho vụ khiếu kiện này. Hàng ngàn doanh nghiệp Việt Nam đang mong chờ một kết quả thật tốt đẹp. Hi vọng rằng công quyền không phụ sự mong đợi hết sức chính đáng ấy.

Tác giả: Phạm Hoài Huấn

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế)