Yêu cầu của bà K có hợp pháp không ? Tại sao ?
Đầu năm 2007 ông An định mở rộng quy mô kinh doanh của DNTN ra mi62n trung và ông ấy cân nhắc 2 phương án:|
1) Thành lập DNTN 2 tại Đà Nẵng
2) Thành lập chi nhánh DNTN 2 tại Đà Nẵng
Hỏi phương án nào hợp pháp, phương án nào không hợp pháp ? Tại sao ?
Trân trọng./.
Người gửi: H.T Đình Vũ
 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi hướng dẫn bạn giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật doanh nghiệp năm 2005;

- Nghị định 102/2010/NĐ-CP về chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp;

- Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng kí doanh nghiệp;

Thắc mắc của bạn có ba vấn đề như sau:

Vấn đề về tách doanh nghiệp tư nhân: Theo như thông tin bạn cung cấp thì công ty của ông An là doanh nghiệp tư nhân. Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp năm 2005 thì pháp luật chỉ có quy định về tách doanh nghiệp dành cho công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn còn không có quy định về tách doanh nghiệp dành cho doanh nghiệp tư nhân.

Vấn đề về đổi tên doanh nghiệp: Tên của doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại luật doanh nghiệp và chương III NĐ 43/2010 về đăng kí doanh nghiệp. Việc đổi tên trước hết phải nạp đủ các giấy tờ hợp lệ như quy định tại khoản 4 Điều 17 NĐ43/2010 . Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật,  Cơ quan đăng ký kinh doanh ra Thông báo yêu cầu doanh nghiệp có tên vi phạm đổi tên doanh nghiệp và làm thủ tục thay đổi tên trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày ra Thông báo.

Vấn đề phương án thành lập chi nhánh của doanh nghiệp: Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan thì doanh nghiệp có thể  đăng kí thành lập chi nhánh và hoạt động bình thường như một doanh nghiệp.

Nếu đăng kí thành lập chi nhánh thì khi thành lập chi nhánh, doanh nghiệp phải hoàn thành các thủ tục, hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 43/2010 NĐ-CP. Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để yêu cầu mã số chi nhánh, sau đó cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh vào Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh của doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp lập chi nhánh  tại tỉnh, thành phố khác nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản tới Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Đối với việc thành lập DNTN 2 tại Đà Nẵng Theo quy định của pháp luật về tên của doanh nghiệp thì tại điểm đ khoản 2 Điều 15 NĐ 43/2010 NĐ-CP  có quy định trường hợp gây nhầm lẫn tên với tên của doanh nghiệp khác là :

”Tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký bởi một hoặc một số số tự nhiên, số thứ tự hoặc một hoặc một số chữ cái tiếng Việt (A, B, C,...) ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó, trừ trường hợp doanh nghiệp yêu cầu đăng ký là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng ký”.

Do vậy, theo quy định của pháp luật , để việc bạn mở  DNTN 2 ở Đà Nẵng hợp pháp thì doanh nghiệp mới này phải là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng kí.

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn

-  Mẫu đơn xin ly hôn;

- Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

- Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

- Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

Chúc bạn kinh doanh luôn gặp may mắn!

 

Ý kiến trả lời bổ sung:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty luật Minh Khuê. Đối với trường hợp bạn đã trình bày, tôi xin tư vấn như sau:

1, Xét các yêu cầu của bà K:

- Về yêu cầu đòi chia doanh nhiệp tư nhân của bà K:

Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định về nguyên tắc chia tài sản khi li hôn: “Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó”.

Điều 27 Luật HN & GĐ 2000 quy định về tài sản chung của vợ, chồng: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung”.

Điều 32 Luật HN & GĐ quy định về tài sản riêng của vợ, chồng:

“1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.

Trong trường hợp này, doanh nghiệp tư nhân An Khang do ông An thành lập từ năm 2003, tới năm 2005 ông An và bà K mới kết hôn, do đó doanh nghiệp tư nhân An Khang là tài sản riêng của ông An hình thành trước thời kì hôn nhân. Nếu trong thời kì hôn nhân ông An và bà K thực hiện việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì bà K sẽ có quyền yêu cầu ông An chia DNTN An Khang. Nếu không có việc nhập tài sản này thì bà K không có quyền yêu cầu chia DNTN An Khang. Tuy nhiên, đối với phần lợi tức phát sinh từ DNTN An Khang trong thời kì hôn nhân là thu nhập của ông An từ hoạt động kinh doanh, nên thuộc thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, vì vậy bà K chỉ có quyền yêu cầu chia phần lợi tức của doanh nghiệp trong thời kì hôn nhân.

- Về yêu cầu ông An đổi tên DNTN An Khang, không cho sử đụng tên bà K làm tên doanh nghiệp:

Theo quy định của Điều 143 Luật Doanh nghiệp năm 2005 về quyền quản lí doanh nghiệp: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật”.

DNTN An Khang do ông An làm chủ, ông An có toàn quyền quyết định việc quản lý doanh nghiệp, vì vậy bà K không có quyền yêu cầu ông An đổi tên doanh nghiệp.

2. Về phương án mở rộng quy mô kinh doanh của DNTN An Khang:

Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân”.

Theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP Về đăng kí doanh nghiệp, DNTN có thể đăng kí hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, thông báo địa điểm kinh doanh. Riêng đối với thông báo lập địa điểm kinh doanh, doanh nghiệp chỉ được đặt địa điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh (Điều 33 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP).

Trong trường hợp này, ông An định mở rộng quy mô kinh doanh của DNTN ra miền trung, nên ông có thể mở rộng quy mô kinh doanh dưới hai hình thức đăng kí hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng đại điện. Phương án thành lập chi nhánh DNTN tại Đà Nẵng là hợp pháp và đảm bảo giữ được thương hiệu của DNTN. Phương án thành lập DNTN 2 tại Đà Nẵng là không hợp pháp vì mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

 

Ý kiến bổ sung:

Việc bà k có ý định ly hôn và đòi chia tài sản đối với ông An, căn cứ xác định, phân chia tài sản theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2000 và bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể:

Bà K đòi chia DNTN cụ thể là K đòi quyền sở hữu toàn bộ chi nhánh của DNTN An Khang tại Cần Thơ để trên cơ sở đó thành lập DNTN 2; bà K yêu cầu ông An đổi tên DNTN An Khang, không cho sử đụng tên bà K làm tên doanh nghiệp. phân tích các thông tin được cung cấp thì có thể nhận thấy:

Thứ nhất, Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) An Khang do ông An thành lập năm 2003 vốn đầu tư ban đầu là 15 tỷ, do đó khi ông A thành lập doanh nghiệp tư nhân An khang đã có đăng kí kinh doanh đứng tên ông An. Nên đây là tài sản riêng của ông An tại thời điểm năm 2003.

Đến năm 2005 thì ông An kết hôn với bà K, đến năm 2007 thì bà K có ý định ly hôn với ông An nhưng trong thời gian từ năm 2005 đến 2007 thì giữa bà K và ông An không đưa ra thông tin tài liệu gì khác về việc bà K cùng xây dựng và phát triển công ty để thành lập chi nhánh công ty nên chưa có đủ căn cứ để khẳng định bà K có quyền đòi chia tài sản là chi nhánh chi nhánh của DNTN An Khang tại Cần Thơ hay không. Nếu bà K không có đóng góp xây dựng chi nhánh DNTN An Khang tại Cần Thơ và ông An chứng minh được thì Bà K không có quyền đòi chia tài sản là chi nhánh này. Còn nếu bà K chứng minh được công sức, tài sản đóng góp xây dựng Chi nhánh tại cần thơ thì bà K có quyền yêu cầu chia tài sản là chi nhánh này tùy thuộc vào sự đóng góp của bà K.

Thứ hai, bà K yêu cầu ông An đổi tên DNTN An Khang, không cho sử đụng tên bà K làm tên doanh nghiệp, là không có căn cứ. Theo quy định của luật doanh nghiệp và văn bản hướng dẫn thì tên doanh nghiệp phải không trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của các doanh nghiệp khác và Ông An đã đăng kí thành lập DNTN An khang và được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì chỉ có ông An mới có quyền thay đổi tên doanh nghiệp. Nếu ông An đồng ý yêu cầu của bà K thì Ông An làm thủ thủ thay đổi tên doanh nghiệp trong giấy phép đăng kí kinh doanh. Còn việc bà K không cho phép sử dụng tên bà làm tên doanh nghiệp thì không có căn cứ do ông A có quyền sử dụng tên tùy chọn để đặt tên cho doanh nghiệp nếu không trùng và gây nhầm lẫn đối với tên của các doanh nghiệp khác.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp.
----------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT LIÊN QUAN:

1. Tư vấn thủ tục ly hôn;

2. Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình;

3. Dịch vụ tư vấn pháp luật: Lĩnh vực hôn nhân gia đình;

4. Luật sư Bảo vệ trong các vụ án Hôn nhân và gia đình;

5. Luật sư đại diện tranh tụng lĩnh vực Hôn nhân - Gia đình;

6. Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình;