Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Thông tư 45 của Bộ Công an quy định về biển hiệu và giấy chứng nhận tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của CSGT (ban hành ngày 27/7/2012, có hiệu lực từ ngày 1/1/2013)

- Thông tư số 65/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 của Bộ Công An

- Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/04/2010 của Bộ Công An có quy định thì công an các đơn vị, địa phương có liên quan (Cảnh sát cơ động, cảnh sát phản ứng nhanh,…) 

2. Luật sư tư vấn:

Theo Thông tư 45 của Bộ Công an quy định về biển hiệu và giấy chứng nhận tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của CSGT (ban hành ngày 27/7/2012, có hiệu lực từ ngày 1/1/2013), chỉ những CSGT mang bảng hiệu tuần tra kiểm soát (do Bộ Công an cấp) trên ngực trái mới có quyền dừng các phương tiện đang lưu thông để xử lý.

Ngoài Cảnh sát giao thông ra thì theo khoản 2 điều 2 Thông tư số 65/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 của Bộ Công An và khoản 3 điều 47 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/04/2010 của Bộ Công An có quy định thì công an các đơn vị, địa phương có liên quan (Cảnh sát cơ động, cảnh sát phản ứng nhanh,…) cũng có thẩm quyền dừng phương tiện tham gia giao thông và xử phạt vi phạm hành chính trong một số trường hợp.

Theo quy định tại Nghị Định số 34/2010/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.  Điều 49 quy định về thẩm quyền của công an nhân dân như sau:

Trưởng công an cấp xã có thẩm quyền xử phạt:

"a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 2.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;

d) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi, buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra.

Để xác định vi phạm bị xử phạt trong lĩnh vực giao thông đường bộ bạn có thể tham khảo thêm  quy định sau:

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:

a) Các hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ;

b) Các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

c) Các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ;

d) Các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ;

đ) Các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ;

e) Các hành vi vi phạm khác liên quan đến giao thông đường bộ”.

Theo quy định, phạm vi kiểm tra, xử lý của công an phường là tại các đường nội bộ trong khu dân cư, các con hẻm ngoài phạm vi quản lý của cấp TP và quận theo phân cấp quản lý hành chính. Các lỗi vi phạm mà công an phường được phép kiểm tra, xử lý gồm: người ngồi trên môtô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm; môtô, xe gắn máy không đủ điều kiện lưu hành (không có đèn, còi...), chở hàng cồng kềnh và các tụ điểm tập trung loại xe không đủ điều kiện lưu hành.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông miễn phí, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê