1. Quy định về tố cáo và hướng dẫn viết đơn tố cáo tham nhũng ?

Thưa luật sư, Cho em hỏi: Ở chỗ em có một gia đình, vợ chồng là cán bộ công chức,viên chức giờ đã nghỉ hưu. Tuy nhiên với khối tài sản đất đai. Tiền gửi ngân hàng đã lên đến hơn vài ba chục tỉ đồng. Được biết gia đình họ không có người đinước ngoài, không kinh doanh buôn bán. Tất cả con cái đều làm công chức viên chức binh thường.
Chi có một người con rể làm trưởng đồn cửa khẩu. Vì vậydân tình ở đây họ xì xầm. , bàn tán xôn xao, thắc mắc rất nhiều và họ nghingờ liệu gia đình này có dậu hiệu tham ô, chạy của không. Với những thôngtin như vậy liệu chúng tôi có thể làm đơn tố cáo việc tham ô tham nhũng, đề nghị các cấp có thẩm quyền về kiểm tra tài sản cua gia đình này được không ? Nếu được thi gửi đơn đến cơ quan nào ? Viết thư nặc danh được không ?
Cảm ơn!
- Canh Tran

Luật sư tư vấn:

Khoản 1,2,3 Điều 2 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

"1. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực."

Tại Điều 9 Luật tố cáo 2011 quy định như sau:

"Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

1. Người tố cáo có các quyền sau đây:

a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

b) Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình;

c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo;

d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết;

đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập;

e) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra."

Như vậy theo quy định này nếu bạn muốn tố cáo một hành vi vi phạm pháp luật nào bạn phải làm đơn trình bày trung thực nội dung tố cáo và phải có cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo chứ không thể tố cáo theo cảm nghĩ hay góc độ cá nhân một cách suy diễn.

Nội dung cơ bản của mẫu đơn tố cáo như sau, mời các bạn cùng tham khảo:

>> Tải ngay: Mẫu đơn tố cáo cập nhật mới nhất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------

……., ngày ……. tháng …….năm ……

ĐƠN TỐ CÁO

Kính gửi: …………………. (1)

Tên tôi là:.....................................................................................................................

Địa chỉ: ........................................................................................................................

Tôi làm đơn này tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của: ................................................(2)

Nay tôi đề nghị: ........................................................................................................ (3)

Tôi xin cam đoan những nội dung tố cáo trên là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố tình tố cáo sai.

NGƯỜI TỐ CÁO
(Ký, ghi rõ họ tên)

(1) Tên cơ quan tiếp nhận tố cáo.Ghi chú:

(2) Họ tên, chức vụ và hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo.

(3) Người, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo xác minh, kết luận và xử lý người có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Có thể làm đơn nặc danh tố cáo tham nhũng không ?

Theo đơn tố cáo của công dân, Công an huyện H đã tổ chức theo dõi và bắt quả tang Trần Văn X, cán bộ địa chính - xây dựng của thị trấn X đang nhận của bà L, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân XL đóng trên địa bàn xã số tiền 10 triệu đồng để không gây khó khăn cho việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà.

Khi tiến hành điều tra hành vi nhận hối lộ của X, cơ quan Điều tra thu thập được thông tin là một số cá nhân và cơ quan đóng trên địa bàn bị X nhũng nhiễu, vòi tiền đã từng gửi đơn thư tố cáo hành vi của X tới ông T, Chủ tịch UBND xã nhưng không thấy có phản ứng gì. Trong buổi làm việc với ông T, Điều tra viên đã mang theo một số đơn thư tố cáo nặc danh để xác minh việc ông T có nhận được những đơn thư đó hay không thì ông T trả lời rằng: Ông có nhận được một vài thư tố cáo tương tự như những đơn thư nặc danh mà Điều tra viên mang theo, nhưng vì tất cả đều là thư nặc danh nên theo nguyên tắc, ông không xem xét đến vì không có cơ sở.

Thời gian gần đây, ông cũng thấy X có những biểu hiện bất minh trong quan hệ giải quyết công việc đất đai cho người dân trong xã, nhưng trên thực tế chưa có ai trực tiếp tố cáo nên UBND không có căn cứ để xem xét. Đồng thời, ông T cũng đề nghị Điều tra viên phải có chứng cứ xác đáng, chứ không thể tin vào đơn thư nặc danh. Theo ông, những đơn thư này vô giá trị.

Cách mà ông T, Chủ tịch UBND xã xử lý với đơn thư nặc danh tố cáo hành vi tham nhũng như vậy có đúng không?

Đơn nặc danh tố cáo tham nhũng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời :

Về quyền và nghĩa vụ của nhân dân trong tố cáo hành vi tham nhũng

Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một trong những biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hiệu quả của công tác này. Tuy nhiên, để hạn chế hành vi lợi dụng quyền tố cáo tham nhũng vào mục đích vu cáo, vu khống cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây rối trật tự xã hội, Điều 6 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định “Công dân có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng; có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng”, các tổ chức xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phát hiện, tố giác các hành vi tham nhũng. Theo tinh thần đó, để thực hiện quyền tố cáo hành vi tham nhũng, khoản 2 Điều 64 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định rõ trách nhiệm của người tố cáo tham nhũng như sau: “Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên, địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ vào các quy định trên có thể thấy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đề cao trách nhiệm công dân trong việc tố cáo tham nhũng thông qua việc người tố cáo cung cấp danh tính, địa chỉ của bản thân để giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền xử lý kịp thời, hiệu quả hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế là phần lớn người dân sợ bị trả thù, trù dập khi công khai, trực tiếp tố cáo tham nhũng nên để khuyến khích người dân tham gia đấu tranh chống tham nhũng, Điều 41 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 120/2006/NĐ-CP) quy định việc công dân tố cáo hành vi tham nhũng có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp như tố cáo trực tiếp, gửi đơn tố cáo, tố cáo qua điện thoại, tố cáo bằng thông điệp dữ liệu qua mạng thông tin điện tử.

Giá trị của đơn thư nặc danh tố cáo hành vi tham nhũng

Do tính chất đặc thù của hoạt động phòng, chống tham nhũng và yêu cầu cao độ về đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay nên khoản 3 Điều 41 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP quy định chỉ những trường hợp sau đây thì tố cáo về hành vi tham nhũng mới không được xem xét:

- Những tố cáo mà người tố cáo mạo tên;

- Những tố cáo mà nội dung tố cáo không rõ ràng, thiếu căn cứ;

- Những tố cáo đã được các cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

Như vậy, đơn thư tố cáo hành vi tham nhũng nặc danh không thuộc một trong các trường hợp nêu trên. Theo quy định tại khoản 4 Điều 42 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP thì đối với những tố cáo không rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo (tố cáo nặc danh) nhưng nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo thông tin được cung cấp để phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng.

Như vậy, với quy định này, có thể hiểu những đơn thư tố cáo tham nhũng nặc danh, nhưng có nội dung tố cáo rõ ràng, đối tượng bị tố cáo cụ thể, có cơ sở để xác định hành vi tham nhũng thì có giá trị là tin báo, là thông tin phục vụ cho hoạt động đấu tranh làm rõ hành vi tham nhũng đó.

Do đó, việc ông T, Chủ tịch UBND xã cho rằng cán bộ điều tra không được căn cứ vào các thông tin trong đơn thư tố cáo nặc danh để điều tra vụ việc là không phù hợp với các quy định nói trên.
Trong vụ việc này, ông T - với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan và là người quản lý việc thực hiện công vụ của X - đã từng nghi ngờ về những biểu hiện bất minh trong công việc của đối tượng X, đồng thời cũng đã nhận được những đơn thư tố cáo trực tiếp về hành vi tham nhũng của X. Tuy đây là những đơn thư nặc danh, nhưng có nội dung rõ ràng, cụ thể về hành vi tham nhũng của X. Với cương vị quản lý của mình, ông T có khả năng, điều kiện để xác minh tính xác thực của những nội dung tố cáo. Do đó, việc để xảy ra hành vi tham nhũng phạm tội quả tang của X có trách nhiệm liên đới của ông T.

Các văn bản liên quan:

Nghị định 120/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng

Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 ;

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua tổng đài tư vấn luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.

3. Quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Luật sư cho tôi hỏi quy định về phòng chống tham nhũng của cơ quan tổ chức đơn vị và người có chức vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.D

Quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi

- Theo Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi năm 2012 quy định:

"Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

b) Tiếp nhận, xử lý kịp thời báo cáo, tố giác, tố cáo và thông tin khác về hành vi tham nhũng;

c) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo hành vi tham nhũng;

d) Chủ động phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; kịp thời cung cấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

a) Chỉ đạo việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Gương mẫu, liêm khiết; định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng;

c) Chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

3. Người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện nhiệm vụ, công vụ đúng quy định của pháp luật;

b) Gương mẫu, liêm khiết; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp;

c) Kê khai tài sản theo quy định của Luật này và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của việc kê khai đó."

Như vậy, Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp, việc tư vấn nhằm mục đích cho cá nhân, tổ chức tham khảo.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến : 1900.6162 . Trân trọng./.

4. Nguyên nhân của tham nhũng ở đâu ?

Tham nhũng là một từ ghép. Tham là tham lam, vơ vét. Nhũng là nhũng nhiễu, hách dịch. Tham nhũng dùng để ám chỉ bọn quan lại triều đình phong kiến ngày xưa, luôn sách nhiễu dân thường để nhận quà cáp, biếu xén. Như vậy có thể thấy tham nhũng chỉ xuất hiện ở những người có thế lực, quyền hành trong xã hội.

Tuy nhiên, ở xã hội phát triển như ngày nay thì tham nhũng bao hàm những nội dung rộng lớn hơn: anh trông giữ xe mà đòi tiền trên mức quy định cũng là tham nhũng; ngồi phòng máy điều hòa trong cơ quan mà chơi game cũng là tham nhũng; bác tài xế xe taxi đi vòng vo để tính tiền khách cũng là tham nhũng; càu nhàu, khó chịu khi giải quyết công việc vì lý do nào đó cũng là tham nhũng…

Như vậy chúng ta có thể thấy Tham nhũng là một căn bệnh cố hữu trong xã hội loài người, nó luôn tiềm ẩn và nằm sâu trong lòng mỗi con người, không riêng gì ở nước ta mà các nước khác trên thế giới đều có tham nhũng. Nhưng về hành vi và mức độ của tham nhũng thì mỗi nơi, mỗi nước có khác nhau.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Tham nhũng, ngoài nguyên nhân chính là con người, còn có sự tác động mạnh mẽ từ xã hội. Chúng ta thử đi tìm nguyên nhân xã hội của tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Theo Chủ nghĩa Duy vật biện chứng thì: “ Vật chất quyết định ý thức”. Dân gian ta có câu: “ Có thực mới vực được đạo”.

Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng: con người từ lúc mới sinh ra cũng cần phải có khăn, tã quấn lại cho ấm, lớn thêm một tý thì có nhu cầu về đồ hàng ( đồ chơi trẻ em), lớn hơn nữa thì sách vở, quần áo mới…đến khi trưởng thành, đi làm thì lo cho cuộc sống tự lập, báo hiếu cha mẹ…khi có gia đình thì lo cho con, cho cháu…đó là chưa kể nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày là điều kiện cần và đủ để cuộc sống có thể tồn tại.

Tất cả, chung quy lại đó là vật chất, được tính bằng tiền.

Ai trong chúng ta, khi trưởng thành và bắt đầu đi làm đều có một mong muốn chân chính nhất đó là: đi làm để có được tiền lương, tiền lương này đủ nuôi sống bản thân và có một ít tích lũy để lo những việc lớn ( như đàn ông có 3 việc lớn là: tậu xe, xây nhà, hỏi vợ). Nhưng ngay từ đầu, cái mong muốn “ chân chính” ấy đã bị “ bôi đen” bởi khi đi xin việc, có nhiều cơ quan, đơn vị, muốn được vào làm thì phải chạy chọt, lo lót bằng tiền.

Và mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh từ đây: người bỏ tiền ra để xin việc thì điều đầu tiên họ nghĩ đến là phải thu hồi lại được số tiền đã bỏ ra ( một cách tự giác hay bắt buộc), như vậy họ có vẻ là đang làm việc nhưng thực chất là họ đang tìm mọi cách để “ thu hồi vốn” như: đi muộn, về sớm ( ăn cắp thời gian), gọi điện thoại làm việc riêng (ăn cắp tiền), sử dụng điện, nước, văn phòng phẩm vô tội vạ…Nghĩa là họ cố tình làm bất cứ việc gì có thể được, miễn là không phải trả tiền, nói như người Nam bộ là “xài chùa”.

Mâu thuẫn tiếp tục phát triển thành một nghịch lý, đó là tiền lương hàng tháng. Quả thật với đồng lương tối thiểu cộng các khoản thu nhập khác như: phụ cấp chức vụ, trách nhiệm ( nếu có), tiền ABC, tiền thưởng, tiền ăn trưa, tiền làm thêm…thì một người chỉ có thể “ tồn tại” được, chứ đừng nói là “ sống” được. Bởi một lẽ, để “ tồn tại” chỉ cần có ăn, uống và thở không khí, còn để “ sống” thì cần rất, rất nhiều những đòi hỏi về vật chất và tinh thần khác nữa.

Và người ta đã tự cho phép mình làm tất cả những gì có thể, để có được “ thu nhập thêm”, để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ( với những người không có điều kiện và nhu cầu thấp) hay tối đa ( với những người có điều kiện và nhu cầu cao) của cuộc sống.

Nghịch lý nối tiếp nghịch lý, như một triết lý rất lạc hậu từ xa xưa để lại đó là: “ Trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Nghĩa là cứ việc sinh con ra nhưng không cần nuôi mà bắt nó tự làm, ăn mà sống. Có bộ máy tổ chức, có tuyển người vào làm việc nhưng không nuôi sống họ được bằng lương, biết thế nhưng vẫn thành lập mới, vẫn tuyển dụng và giao việc nhưng không kiểm tra ( hay không dám kiểm tra vì mọi người đều thế cả). Thay vì thưởng, phạt nghiêm minh thì người ta tìm mọi cách để khen thưởng càng nhiều càng tốt, còn phạt thì quên đi ( vì sợ va chạm).

Chúng ta đều biết, tiền lương cơ bản không đủ trang trải cho cuộc sống, nhưng thực tế thì ngược lại. Người ta vẫn sống “ tốt”. Như vậy, vô hình dung, chúng ta đã chấp nhận một thực tế là mọi người đều có quyền làm bất cứ việc gì để có “ thu nhập thêm”. Bởi vậy người ta cứ vô tư nhận tiền “lo lót”, vô tư mua nhà, sắm xe, vẫn uống những loại rượu mà giá một chai còn cao hơn cả tiền lương tháng…

Đến đây sẽ xuất hiện một mâu thuẫn nữa: nếu cho rằng “ thu nhập thêm” đó là bất hợp pháp thì theo pháp luật, sẽ có nhiều người phải chịu trách nhiệm liên đới ( vì biết mà không báo hay không ngăn chặn). Nhưng nếu cho rằng “thu nhập thêm” là hợp pháp hoặc là đúng ( ý này có lẽ hợp lý hơn vì ai cũng có “ thu nhập thêm” với mức độ khác nhau) thì sẽ nảy sinh vấn đề: “thu nhập thêm” đó là bao nhiêu? Có kiểm soát được không? ( mặc dù là ai cũng biết).

Theo tôi thì nguyên nhân xã hội của nạn tham nhũng chính là đây. Khi người ta chủ động làm mọi việc để có tiền, có càng nhiều càng tốt mà không bị kiểm soát, ngăn chặn, đến lúc này đồng tiền sẽ trở thành “ ma lực” chi phối lại chính ta. Lòng tham của con người thường “ không có đáy”, làm được 1 rồi thì lại muốn kiếm thêm 2, có 2 rồi lại muốn kiếm thêm 3,4,5…thiên hạ có câu “ Hy sinh đời Bố, củng cố đời con” phần nào đã phản ánh điều này. Không những vậy, “ thu nhập thêm” còn được hợp pháp hóa bằng những “ phong bì” dày cộm, những chuyến du lịch “ không tốn đồng nào”, những chiếc bánh trung thu nhân làm bằng vàng 9999, những món quà có giá bằng tiền lương của cả năm ( với điều kiện phải nhịn ăn)…
Đó cũng là lý do tệ quan liêu, tham nhũng thời gian qua không hề suy giảm mà càng tinh vi hơn, nhưng cũng rất táo bạo và trắng trợn.

Cải cách chế độ tiền lương là điều tất yếu, tuy nhiên điều quan trọng hơn là phải cải cách như thế nào? Theo tôi cải cách tiền lương trước hết là phải đảm bảo cho cán bộ, công chức sống được bằng lương. Cải cách không đơn giản chỉ là tăng mức lương tối thiểu mà cải cách phải làm sao nâng cao được hiệu quả công việc, hiệu lực quản lý hay nói đúng hơn là việc trả lương phải đúng người, đúng việc và không thể cào bằng.

Cải cách tiền lương phải đi kèm với việc tuyển dụng, sử dụng và tinh giản biên chế, kiên quyết không nhận và đưa ra khỏi bộ máy những người thiếu đạo đức, thiếu văn hóa, không đủ trình độ, năng lực để làm việc, bởi đây là một trong những vật cản rất lớn đối với bộ máy và sự phát triển của xã hội.

Tôi tin chúng ta không thiếu tiền để trả lương cho cán bộ, công chức, cái chúng ta thiếu là thiếu chính sách, thiếu chế độ tiền lương rõ ràng, đồng bộ và hợp lý.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tham nhũng phải chịu mức án như thế nào ?

5. Số điện thoại đường dây nóng chống tham nhũng ?

Đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, gần đây Cục phòng chống tham nhũng đã công bố công khai đường dây nóng cung cấp thông tin chống tham nhũng, chúng tôi cung cấp để quý khách hàng tham khảo:

Những ngày cuối năm, đặc biệt gần các dịp lễ tết thông thường nhu cầu, tâm lý tặng quà phát sinh rất nhiều. Do đó, tương tự như những năm trước đó đã triển khai, lãnh đạo Cục Chống tham nhũng đã mởi ra các đường dây nóng để phản ánh về những thông tin quà tặng Tết, dấu hiệu tiêu cực, nhũng nhiễu có thể xảy ra để xử lý ngay.

Theo đó, các số điện thoại đường dây nóng mà Cục Chống tham nhũng mở để nhận phản ánh tặng quà Tết bao gồm: 08.048228, 0902.386.999, 0125.698.6688 và Email: Cucchongthamnhung@gmail.com.

6. Người từng có công trạng khi tham nhũng có thể bị xử lý không ?

Kết quả thăm dò dư luận của Ban Tuyên giáo cho thấy người dân đánh giá việc đấu tranh chống tham nhũng chưa có chuyển biến đột phá, vẫn giậm chân tại chỗ. Số vụ tiêu cực được phát hiện chưa tương xứng với tình hình thực tế.

Khó xử lý người tham nhũng từng có công trạng

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Hôm nay, nhìn lại một năm chỉ đạo đấu tranh phòng chống tham nhũng, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng Vũ Tiến Chiến cho biết, do thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trên một số lĩnh vực, tham nhũng đã được kiềm chế và có xu hướng giảm. Điển hình là việc sử dụng ngân sách để mua sắm tài sản công được thực hiện nghiêm. Không còn tình trạng chi mua tài sản cho cán bộ vượt quá tiêu chuẩn; sử dụng tiền công làm quà tặng.

Tuy nhiên, hiệu quả phòng ngừa tham nhũng tại nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn thấp. Một số vụ tham nhũng chưa được xử lý nghiêm, còn lạm dụng biện pháp hành chính để xử lý. Ông Chiến lấy ví dụ, có vụ tham ô hơn 800 triệu đồng nhưng sau khi nộp xong tiền khắc phục hậu quả đã được chuyển từ xử lý hình sự sang hành chính. Cho rằng cách giải quyết này chưa đúng quy định pháp luật, Văn phòng Ban chỉ đạo sẽ có ý kiến.

Hà Nội dẫn đầu cả nước về số vụ án tham nhũng được phát hiện, khởi tố với gần 40 vụ và 100 bị can, tiếp đó là Kiên Giang, Quảng Ngãi và Quảng Ninh. Có khoảng 20 địa phương chỉ phanh phui được 1 vụ. Văn phòng Ban chỉ đạo không đánh giá cao rằng ở những nơi đó nạn tham nhũng được đẩy lùi mà nhận định đây chính là yếu kém trong chỉ đạo đấu tranh chống tiêu cực.

Năm 2009 hơn 600 người bị các cơ quan tố tụng xử lý trách nhiệm hình sự do có hành vi tham nhũng tại gần 300 vụ án. Trong số này hơn 50% người có dấu hiệu của tội tham ô tài sản; gần 14% là tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản và hơn 12% có hành vi lợi dụng dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Ông Chiến cho biết, theo kết quả thăm dò dư luận năm 2009 của Ban Tuyên giáo, trong 35 tiêu chí đưa ra người dân đánh giá chỉ có 10 tiêu chí được làm tốt hơn trước, trong đó có việc điều hành năng động và hiệu quả của Chính phủ. 23 lĩnh vực được nhận xét là kém hơn trước. Riêng giáo dục và phòng chống tham nhũng được coi là chưa có chuyển biến vẫn giậm chân tại chỗ.

Theo Ban chỉ đạo, nguyên nhân khiến công tác phòng chống tham nhũng chưa đạt hiệu quả như mong đợi, vẫn còn diễn biến phức tạp một phần do "năng lực và sức chiến đấu của nhiều cơ quan ngay từ cơ sở còn hạn chế, chưa đủ để đấu tranh phát hiện và ngăn chặn kịp thời".

Đặc biệt, đối tượng tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn có kiến thức và kinh nghiệm quản lý nên rất tinh vi trong thủ đoạn. Cá biệt một số người lại có nhiều cống hiến, công trạng lại càng khó khăn trong phát hiện, xử lý.

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Được cho rằng tham nhũng, tiêu cực vẫn đang hiện hữu tại nhiều lĩnh vực. Ông cho hay từng được biết một cơ sở kinh doanh ăn uống phải 2 triệu đồng cho mỗi phong bì đưa 4 cán bộ kiểm tra an toàn thực phẩm để được chứng nhận đủ tiêu chuẩn vệ sinh.

Vị lãnh đạo quân đội này cũng lo ngại tiền trong gói kích cầu của Chính phủ thời gian qua có được sử dụng đúng mục đích hay không? "Không khéo lại chỉ "béo bở" cho một số người, người có nhu cầu muốn nhận lại phải "chạy chọt", ông nói.

Trăn trở về việc này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (Trưởng ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng) cho rằng cải cách thủ tục gây phiền hà rắc rối cho dân chính là cắt đi điều kiện, cơ hội làm nảy sinh tham nhũng. Đặc biệt, cần hoàn thiện thể chế tại một số lĩnh vực còn xảy ra tham nhũng nghiêm trọng, như đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý tài chính...

Người đứng đầu Chính phủ cho rằng: "Việc thu hồi đất ở của dân để làm các dự án nhà ở đô thị sờ chỗ nào cũng có sai phạm, tiêu cực. Tôi rất bức xúc". Sắp tới Chính phủ sẽ chỉ đạo rà soát việc thu hồi đất đối với xây dựng nhà ở phục vụ mục đích kinh doanh xem còn kẽ hở gì; việc giao đất cho chủ đầu tư phải tính giá thế nào cho sát với thị trường tránh tình trạng thất thu cho nhà nước...

Ngoài đất đai, theo Thủ tướng trong lĩnh vực thuế cũng nảy sinh tiêu cực nghiêm trọng. "Thu thuế bây giờ "cưa đôi" nhiều lắm. Đáng lẽ phải đóng 10 đồng thì thông đồng với cán bộ thuế chỉ nộp một nửa, phần còn lại là chia chác", Thủ tướng nhận định.

Ông cho rằng thời gian tới phải áp dụng công nghệ thông tin để tiến tới việc "không phải gặp trực tiếp cán bộ thuế". Đây là sẽ biện pháp quan trọng để hạn chế tiêu cực.

Cùng với tham nhũng, Thủ tướng đánh giá nạn lãng phí cũng là mối quan tâm của Chính phủ. Nhiều cơ quan chi phí cho họp hành, tiếp khách mua sắm quá lớn. Có những những cuộc họp không lớn nhưng những tổ chức rình rang, hay tổ chức lễ hội tràn lan tốn kém tiền của nhà nước...

Trước việc Ban chỉ đạo đánh giá tại một số vụ án tham nhũng có hiện trượng "nhẹ trên, nặng dưới" tức xử cấp trên nhẹ, cấp dưới nặng, Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình cho rằng: "Nếu có như vậy VKS đã kháng nghị từ lâu rồi".

Theo ông khi xét xử, ngoài hành vi phạm tội, tòa án còn cân nhắc tình tiết giảm nhẹ như nhân thân, quá trình công tác của người phạm tội... để xác định hình phạt. Tuy nhiên, một điểm khó là người phạm tội có mối quan hệ với nhiều lãnh đạo cấp cao nên khi đưa ra xét xử thường có nhiều dư luận khác nhau.

Giải thích về việc 37% người liên quan án tham nhũng được hưởng án treo, người đứng đầu ngành tòa án khẳng định: "Đa số trường hợp tuyên là đúng". Tuy nhiên, ngành cũng đang yêu cầu các địa phương kiểm tra, rà soát lại các trường hợp này.

Thủ tướng chỉ đạo, xét xử phải nghiêm minh, đúng người đúng tội nhưng cũng không được làm oan. "Đừng để có dư luận rằng việc xử lý án tham nhũng là đầu voi đuôi chuột", ông nhắc nhở.

>> Tham khảo thêm nội dung: Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và khả năng đáp ứng của Việt Nam