Bà L và ông B sống chung với nhau có đăng ký kết hôn. Do mâu thuấn gia đình mà các con riêng của ông B đã từ bố mình không quan tâm đến ông cũng như bà lợi vợ sau của ông B. Các con ông bắc đối xử rất tệ với ông cũng như mẹ kế là bà L. Sau bao nhiêu năm sống chung với nhau cách đây nửa năm thì phát hiện ông B bị bệnh ung thư, các con của ông B không hề để ý đến cha mình hầu như không quan tâm, ông B bệnh một mình bà L chăm lo cho ông, cho đến cách đây khoảng một tháng ông B qua đời, các con ông bắc quay về để dành tài sản.

Người con sống ngoài quảng bình vao đây ở căn nha mà bà L và ông B ở từ trước tới nay và đuổi bà L ra khỏi nhà, còn người con thứ 2 của ông B làm luật sư tên Đ.Q.H ở TP.HCM không rõ nơi làm việc đã giả mạo giấy tờ ủy quyền của bà lợi để lấy tiền tuất của ông B, vì ông B có tiền hưu trí nên khi ông chết có tiền tuất là 11 triệu đồng. Vì tiền tuất của chồng bhxh báo chỉ có người vợ mới được lấy số tiền này, ông H biết vậy nên đã làm giả giấy ủy quyền nói là vì mẹ tôi bà L bị bệnh nên ủy quyền cho ông H lấy nhưng thực chất bà lợi không hề ủy quyên, không có ký mà ông H giả mạo chữ ký. Sau bao nhiêu năm chung sống với chồng bà L tay trắng, bà L đã đi lên BHXH người ta đòi chứng nhận kết hôn, khi bà lợi về xã thì được biết con trai Đ.Q.H đã lấy giấy kết hôn rồi.

Xin Luật sư hãy cho tư vấn giúp bà L có thể kiện ông Đ.Q.H về tội giả mạo giấy tờ giả mạo chữ ký của bà được không? Hơn thế nữa các con ông B đang có sự đe dọa đến tính mạng của bà L.

Mong sớm có câu trả lời từ Luật sư em xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

>>  Luật sư tư vấn hành vi giả mạo chữ ký theo luật,gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 

Bộ luật hình sự 2009 sử đổi, bổ sung 

2. Nội dung tư vấn:

Hành vi giả mạo chữ ký của người khác là trái quy định của pháp luật và tùy vào hậu quả xảy ra có thể bị xử lý vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể. Nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào các yếu tố như động cơ, mục đích phạm tội. Trong trường hợp trên hành vi giả mạo chữ ký của ông Đ.Q.H để chiếm đoạt tài sản tức nhận tiền tuất của ông B tước quyền nhận tiền tuất của bà L ông Đ.Q.H thì có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có đủ yếu tố cấu thành tội này. Ngoài ra, đối với một người có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích trục lợi thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác,…

Điều 139 luật hình sự năm 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo điểm a, khoản 2, điều 1 luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định : "Sửa đổi cụm từ “năm trăm nghìn đồng” thành cụm từ “hai triệu đồng” tại khoản 1 các điều 139".

Như vậy, theo như thông tin mà bạn cung cấp ông Đ.Q.H  về khách quan, đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản là số tiền tuất của cha ruột mà lẽ ra bà L là người được hưởng. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (chữ ký giả mạo của bà L) làm cho người - khác nhân viên BHXH tin đó là thật và giao tiền cho ông H. Về mặt chủ quan, lỗi của ông H là lỗi cố ý. Khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác. Chủ thể là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự ông H là người hoàn toàn có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Theo đó, ông Đ.Q.H rất có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Bà L có thể gửi đơn tố cáo ông H đến cơ quan công an nơi ông H cư trú để cơ quan công an tiến hành điều tra và khởi tố ông H, đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ngoài ra, nếu có đủ chứng cứ cũng như căn cứ cho thấy các con ông B đã đe dọa đến tính mạng của bà L thì các con ông B rất có thể sẽ bị truy cứu hình sự về tội giết người khi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 93 BLHS.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê