Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

[ Free ] Liên hệ mới LMK 11-04-15 12:46

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật tố tụng hình sự 2003  (văn bản mới: Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 )

2. Nội dung trả lời:

Theo quy định tại Điều 64 BLTTHS 2003 quy định về chứng cứ như sau:

"Điều 64. Chứng cứ

1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Như vậy, theo quy định trên thì chứng cứ  dưới hình thức lời khai chỉ được coi là hợp pháp nếu như đó là lời khai  của các đối tượng sau:

- Người làm chứng

- Người bị hại

- Nguyên đơn, bị đơn dân sự

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

- Người bị bắt 

- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo "

Theo như thông tin bạn cung cấp thì cơ quan công an chỉ dựa trên lời khai của người nào đó mà không phải là của một trong các đối tượng theo quy định trên nên lời khai đó là không có giá trị. Bạn nên chú ý đến tư cách của người mà cơ quan công an đã lấy lời khai khi bắt giữ người nhà bạn để xác định rõ hơn việc bắt giữ đó là hợp pháp hay không.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê