Sáng lại hỏi em trai tôi thì bảo là say chỉ nhớ bao nhiêu đó thôi và khẳng định là không làm gì hết, mọi người hỏi bé gái thì bé gái cũng trả lời giống em trai tôi và không có gì hết... Nhưng mẹ bé gái về không chịu bỏ qua và viết đơn kiện em trai tôi hiếp dâm bé gái, trong khi mẹ tôi đã năn nỉ xin bỏ qua vì sợ em trai tôi xấu hổ nhưng mẹ bé gái không chấp nhận. Thưa luật sư như vậy em tôi không bị khép tội hiếp dâm được đúng không? và bên tôi có thể viết đơn kiện lại vì đã làm mất danh dự em trai tôi được không?

Mong sớm được hồi âm, xin chân thành cảm ơn.

Người gửi : Đ.T.M.G

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Bị khép vào tội hiếp dâm có đúng hay không ? 

Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời :

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 

Nội dung phân tích:

Thứ nhất, em bạn có phạm tội hiếp dâm ?

Điều 111 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội hiếp dâm như sau:

"1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật  từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5.  Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Hiếp dâm là một tội phạm được quy định tại Điều 111 BLHS.

- Về mặt khách quan của tội phạm: được thể hiện ngay trong cấu thành cơ bản của tội phạm này, đó là "người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ…"

+ Dùng vũ lực là dùng sức mạnh về thể chất như vật ngã, đè, giữ tay, chân, bịt miệng, bóp cổ, đấm đá, trói, giằng xé quần áo.. của nạn nhân nhằm làm mất hoặc hạn chế khả năng phòng vệ, tự vệ, chống trả của nạn nhân.

+ Đe dọa dùng vũ lực là dùng lời nói, cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động vào người nạn nhân, nhưng làm cho nạn nhân hiểu rằng nếu người phạm tội không giao cấu được thì sẽ sử dụng ngay tức khắc vũ lực.

+ Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là những trường hợp như nạn nhân đi một mình trong đêm vắng, đi một mình trong rừng…

+ Dùng thủ đoạn khác là những trường hợp người phạm tội đe dọa, khủng bố tinh thần làm cho nạn nhân khiếp sợ, dùng thuôc gây mê, thuốc kích dục, say rượu hay các chất kích thích khác làm cho nạn nhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự.

+ Giao cấu trái ý muốn của họ là việc giao cấu nhưng không được sự đồng ý của nạn nhân.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có các hành động nhằm giao cấu, không cần phải có căn cứ là đã giao cấu được hay chưa được. Do đó, hiếp dâm là một tội phạm được cấu thành hình thức.

Trong trường hợp của em bạn, em bạn không có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, không nhằm mục đích giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ nên em bạn không thể phạm tội hiếp dâm theo điều 111 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009. 

Thứ hai, bên bạn có quyền kiện lại bên kia không ?

Bộ luật dân sự 2005 quy định 

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.".

Bên cạnh đó điều 307 Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định như sau:

"Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại."

Trong trường hợp em bạn không phạm tội này mà mẹ bé gái lại tố cáo mặc dù em bạn năn nỉ xin bỏ qua nhưng không được chấp nhận, làm mất danh dự của em bạn cho nên em bạn có quyền yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại. 

Ở đây, em bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mẹ bé gái cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết vì đây là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên theo điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bên cạnh đó, nếu hành vi của mẹ bé gái cấu thành Tội vu khống theo điều 122 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 thì em bạn cũng có thể làm đơn trình báo đến cơ quan công an yêu cầu giải quyết. Điều 122 quy định như sau:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.