Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

- Nghị định 136/2007 NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 

2. Luật sư tư vấn:

Để biết bạn của bạn có được xuất cảnh hay không.

Thứ nhất, xem bạn của bạn có thuộc các trường hợp chưa được xuất cảnh:

Điều 21 Nghị định 136/2007 NĐ-CP quy định Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.

3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, theo quy định tại luật này thì khi bạn của bạn là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc liên quan trong công tác điều tra,đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự mới là yếu tố quyết định việc chưa được xuất cảnh. Như bạn nói bạn của bạn mới bị nộp đưn tố cáo nhưng  chưa bị khởi tối hình sự cho nên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 21 đã dẫn chiếu ở trên đó là “có liên quan đến công tác điều tra tội phạm” (vụ án đã được khởi tố, điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự), vì vậy chồng của bạn vẫn được phép xuất cảnh theo quy định. 

Tại Điều 124 - Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:

“1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:

a) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”.

Đồng thời, tại Điều 21 Nghị định 136/2007 NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam quy định:

.Căn cứ quy định trên và đối chiếu với trường hợp của bạn, khi bạn bị tố cáo vẫn được xuất cảnh trừ trường hợp qua điều tra xác minh cơ quan có thẩm quyền thấy rằng bạn có đủ căn cứ xác định bạn bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc bạn bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

Như vậy ta cần căn cứ vào tùy từng trường hợp mặc dù mới bị tố giác nên vẫn được quyền xuất cảnh nhưng nếu qua điều tra xác minh đã có đủ căn cứ xác định bạn của bạn bị nghi thực hiện tội phạm thì để ngăn chặn hành vi bỏ trốn, có quan có thẩm quyền có thể tạm hoãn việc xuất cảnh của bạn bạn.

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê