Sau đó gia đình tôi và phía chủ xe có đến gia đình người bị nạn để cùng lo việc mai táng, sau khi mai táng xong bên phía chúng tôi đã làm việc với bên gia đình nhà bị nạn và đã thỏa thuận bồi thường xong, về phía gia đình bị nạn họ cũng rất thông cảm vì sự việc xảy ra ngoài ý muốn, nên họ đã cam kết không khiếu kiện gì và có viết một lá đơn gửi cơ quan tố tụng để xin miễn trách nhiệm hình sự cho em tôi, nhưng cho đến nay đã hai tháng nhưng chưa thấy cơ quan tố tụng phản hồi, và em tôi vẫn đang bị tạm giam, và gia đình tôi có viết đơn xin bảo lãnh cho em tôi được tại ngoại nhưng cơ quan tố tụng không giải quyết, những cũng không thấy xử tòa, vậy xin luật sư tư vấn giúp trường hợp như đã nêu thì em tôi khi nào mới đưa ra hội đồng xét xử, và nếu xử thì em tôi có phải ngồi tù không và nếu bị phạt tù thì phạt bao lâu? Trân trọng!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

Bị tạm giam khi gây tai nạn giao thông làm chết người ?

Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009

Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2003

II. Nội dung tư vấn

Theo thông tin mà bạn cung cấp, em bạn đã lái xe chở cát và gây tại nạn giao thông là chết người, do đó nếu đủ cấu thành tội phạm thì em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 BLHS:

"Điều 202.  Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm."

Theo quy định tại Điều 105 BLTTHS, chỉ những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự thì người có quyền yêu cầu khởi tố mới có quyền rút yêu cầu khởi tố để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp của em bạn, có hành vi vi phạm quy định pháp luật hình sự theo quy định tại Điều 202 BLHS, do đó cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định khởi tố nếu xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 104 BLTTHS. Như vậy, việc không khởi tố hình sự đối với em bạn phải chỉ được thực hiện nếu đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại Điều 107 BLTTHS:

"Điều 107. Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác."

Như vậy, nếu em bạn không đáp ứng các điều kiện trên thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự mặc dù bên gia đình người bị hại đã cam kết không khiếu kiện gì và có viết một lá đơn gửi cơ quan tố tụng để xin miễn trách nhiệm hình sự cho em bạn theo như thông tin mà bạn cung cấp.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS và quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS :"Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù,..." thì hành vi của em bạn có thể cấu thành tội phạm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 120 BLTTHS:

"Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

Do đó, cơ quan điều tra có thể tiến hành tạm giam em bạn trong một khoảng thời gian không quá ba tháng theo quy định của pháp luật. Bạn có cung cấp thông tin về việc gia đình bạn có viết đơn xin bảo lãnh cho em bạn được tại ngoại nhưng cơ quan tố tụng không giải quyết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 BLTTHS, bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh. Căn cứ theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 92 BLTTHS, việc bảo lãnh cho em bạn chỉ được giải quyết khi đáp ứng được các điều kiện sau:

- Có hai người thân thích trong gia đình phải là người nhận bảo lĩnh cho em bạn

- Khi nhận bảo lĩnh, người nhận bảo lĩnh cho em bạn phải làm giấy cam đoan không để em bạn tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của em bạn theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án.

- Người nhận bảo lĩnh cho em bạn phải  là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc.

Về thời hạn đưa ra xét xử, theo quy định của Pháp luật tố tụng hình sự, một người bị khởi tố về một hành vi phạm tội nào đó thì thông thường trải qua 3 giai đoạn: điều tra, truy tố và xét xử. Theo quy định của BLTTHS 2003, thời hạn để giải quyết một vụ án hình sự kể từ khi khởi tố đến khi xét xử (sơ thẩm) phải trải qua 3 thời hạn tương ứng với 3 giai đoạn tố tụng như sau:

- Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì có thể được gia hạn thêm. Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng. (Điều 119 BLTTHS)

- Thời hạn quyết định truy tố: không quá hai mươi ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định truy tố bị can trước tòa. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm tội phạm nghiêm trọng. (Điều 166 BLTTHS)

- Thời hạn chuẩn bị xét xử: không quá bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. (Điều 176 BLTTHS)

Do đó, em bạn có thể bị xét xử sơ thẩm sau khoảng 6 đến 8 tháng kể từ ngày có quyết định khởi tố vụ án. 

Về mức phạt tù đối với em bạn, do bạn không cung cấp rõ về các tình tiết cụ thể của vụ án này do đó, chúng tôi chỉ tư vấn về mức xử phạt cung đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Theo quy định tại Điều 202 BLHS:

"Điều 202.  Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, rất có thể em bạn sẽ bị phạt tù trong trường hợp này, còn mức xử phạt ra sao sẽ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được. Bạn lưu ý: việc gia đình bạn đã tiến hành bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (bồi thường vật chất cho gia đình người bị hại) có thể coi là một tình tiết giảm nhẹ TNHS.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự.