Thế nhưng khi em của em được cho về họ cứ khăng khăng nói em của em lấy và gặp ai cũng rêu rao. Xin hỏi luật sư em có thể kiện họ được không ạ

Trân trọng cảm ơn Luật sư. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bồ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất, về hành vi tố cáo em trai bạn với cơ quan có thẩm quyền nhưng không có căn cứ chứng minh người bị tố cáo phạm tội, và loan truyền em trai bạn về tội trộm cắp tài sản:

Căn cứ tại điều 122 Bộ luật hình sự quy định về tội vu khống như sau :

Điều 122. Tội vu khống

"1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm." Như vậy, bà A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi trên."

Như vậy, một hành vi được coi là vu khống cho người khác khi có những biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì hàng xóm của bạn có hành vi tố cáo em trai của bạn trước cơ quan có thẩm quyền khi không có căn cứ chứng minh rằng em trai của bạn có hành vi trộm cắp tài sản và loan truyền những thông tin không chính xác về em trai bạn, trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền tố cáo người hàng xóm của bạn. 

Thứ hai, về hành vi tự ý vào khám xét chỗ ở của người hàng xóm, chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ tại Điều 46 Bộ luật hình sự quy định như sau:

Điều 46. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở

 "Cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý.

Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định."

Do đó, công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Hành vi của bà chủ nhà trọ là hành vi xâm phạm chỗ ở của bạn. Nếu hành vi này thỏa mãn cấu thành tội phạm thì bà chủ nhà trọ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 124 Bộ luật hình sự:

Điều 124.  Tội xâm phạm chỗ ở của công dân 

1. Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)  Gây hậu quả nghiêm trọng.

3.  Người phạm tội còn có thể  bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê