Tuy ở cùng nhưng bên B không tham gia cũng như không tìm hiểu và khong biết rõ việc làm ăn của bên A. Một thời gian sau thì bên A bị bắt về tội buôn bán vận chuyển chất ma tuý nhưng lúc bên A bị bắt thì bên B không ở cùng bên A và cũng không tham gia việc làm cùng bên A. Vậy cho cháu hỏi trong trường hợp này bên B có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Và nếu bị truy cứu thì bên B bị truy cứu về tội gì?

Xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn tội phạm ma túy theo luật hình sự, gọi: 1900.6162 

 

Trả lời: 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 

Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009

Bộ luật hình sự năm 2015 

2. Nội dung tư vấn:

Như bạn có trình bày mặc dù khi A bị bắt về tội buôn bán vận chuyển chất ma tuý nhưng lúc bên A bị bắt thì bên B không ở cùng bên A và cũng không tham gia việc làm cùng bên A tuy nhiên trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thể sẽ phát hiện ra được A và B sống chung với nhau và nếu cơ quan điều tra phát hiện ra việc B biết A mua bán vận chuyển ma túy mà không tố giác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm được quy định tại khoản 1, điều 314 của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Do A có hành vi mua bán và vận chuyển chất ma túy nên A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 đây là một trong những loại tội nếu người nào biết mà không tố giác tới cơ quan có thẩm quyền thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội không tố giác tội phạm. Như vậy, rất có thể B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, bên cạnh đó qua nội dung yêu cầu từ vấn chỉ nêu B biết những hành vi này của A nhưng không đề cập tới việc B có can ngăn A hay không nên nếu B có hành động căn ngăn A thì rất có thể B sẽ được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt theo quy định tại khoản 3, điều 314 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

 3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Vậy, trường hợp này của B có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm,  đối với loại tội phạm này theo quy định của pháp luật hiện hành thì sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê