Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi và bổ sung năm 2009

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017

2. Luật sư tư vấn:

Điều 285. (Chương XX1). Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi và bổ sung năm 2009 nay là Điều 360. (Chương XXIII) Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017

Điều 360. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1.Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4.Người có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, trừ trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5.Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

- Là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

- Là pháp nhân thương mại theo quy định của BLDS

Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

- Xâm phạm tinh đúng đắn trong hoạt động quản lý của nhà nước

- Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

- Hành vi thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao

Mặt chủ quan của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

- Lỗi: Cố ý trực tiếp

Mục đích: vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác

Hình phạt của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

- Khung 1: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

- Khung 2: bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

- Khung 3: bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm

- Khung 4: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Hình phạt bổ sung: bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Như vậy, chính xác như bạn nói thì tại quy định của Bộ luật hình sự 2009 thì các tội phạm trong chương XXI. Các tội phạm về chức vụ chỉ áp dụng đối với các đơn vị có vốn nhà nước. Sang Bộ luật hình sự 2015 đã mở rộng sang cả khu vực có vốn tư nhân.

Trong BLHS 2015, khái niệm tội phạm về chức vụ đã được mở rộng về phạm vi. Cụ thể phạm vi các tội tham ô tài sản, nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội môi giới hối lộ đã được mở rộng sang khu vực ngoài nhà nước.

Các quy định về tội phạm chức vụ bắt đầu bằng khái niệm tội phạm về chức vụ. Theo khoản 1 Điều 352, “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.” Qua định nghĩa này, có thể thấy, khách thể bị các tội phạm này xâm hại là những quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức trong và ngoài nhà nước, cụ thể là các quan hệ bảo đảm tính liêm chính, tính vô tư và công minh trong hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức; đồng thời, quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng có thể trở thành khách thể của các tội phạm về chức vụ. Đối tượng tác động quan trọng nhất của các tội phạm về chức vụ chính là hoạt động thực hiện công vụ, nhiệm vụ của người có chức vụ, quyền hạn. Bằng việc bổ sung đối tượng tác động của tội phạm chức vụ là hoạt động thực hiện “nhiệm vụ” bên cạnh hoạt động thực hiện “công vụ” vốn đã được quy định trong BLHS 1999, BLHS 2015 đã khẳng định việc mở rộng phạm vi của tội phạm về chức vụ sang khu vực tư và thể hiện sự thay đổi của khái niệm tội phạm về chức vụ.

Việc sửa đổi, bổ sung những quy định mở rộng phạm vi tội phạm về chức vụ này được luận giải bởi một số lí do sau đây: Một là hiện tượng tư nhân hóa mạnh mẽ các hoạt động trước đây vốn thuộc chức năng công như: giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội… đã phát sinh một loại hệ quả mang tính tiêu cực là tham nhũng trong khu vực tư với tính chất ngày càng nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng ngày càng lan rộng;

Hai là hình sự hóa những hành vi xâm hại hoạt động thực hiện nhiệm vụ trong khu vực tư là cần thiết để duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước;

Ba là, việc mở rộng khái niệm tham nhũng sang khu vực tư giúp bảo vệ cộng đồng khỏi những hậu quả nguy hiểm mà hành vi tham nhũng trong khu vực tư gây ra cho lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là cho những lợi ích về tài chính và một số lợi ích khác của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tăng cường các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng không chỉ trong khu vực công mà cả trong khu vực tư và điều này cũng trở thành một yếu tố thúc đẩy việc mở rộng khái niệm tham nhũng trong luật hình sự Việt Nam.

BLHS 1999 chỉ xác định bản chất tham nhũng đối với các hành vi tham nhũng trong khu vực công mà không xác định bản chất này đối với các hành vi có tính chất và đặc điểm tương tự trong khu vực tư và vì vậy, chưa có các quy định pháp luật tương ứng, phù hợp. Mặc dù theo quy định của BLHS 1999, một số hành vi tham nhũng trong khu vực tư vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự, ví dụ: hành vi của người điều hành hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực chiếm đoạt tài sản được giao quản lý tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 140 – Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc theo Điều 139 – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng việc chưa phản ánh đúng bản chất nguy hiểm của các hành vi này, chưa giúp cho xã hội nhận diện và ngăn ngừa được nguy cơ của những tiêu cực trong khu vực tư, chưa phản ánh đúng mức tầm quan trọng của việc bảo vệ tính liêm chính, minh bạch của khu vực tư và chưa có đường lối xử lý thích đáng đối với các hành vi đó khiến cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong tình hình mới chưa bảo đảm tính toàn diện.

Bên cạnh đó, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng cho thấy sự bất cập trong chính sách xử lý đối với các hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi do có sự phân biệt giữa khu vực nhà nước và khu vực tư, thậm chí nhiều hành vi tương tự như tham nhũng nhưng diễn ra trong khu vực tư nhân thì không thể xử lý được. Mặt khác, xuất phát từ thực tiễn về việc xử lý hành vi tham nhũng đối với tài sản của doanh nghiệp có phần vốn góp của nhà nước, trong đó có sự đan xen về sở hữu mà trong nhiều trường hợp không thể tách biệt giữa tài sản, phần vốn góp của nhà nước với tài sản, phần vốn góp của tư nhân, việc xác định xử lý trách nhiệm của cá nhân là người có chức vụ, quyền hạn trong loại hình doanh nghiệp này rất khó khăn.

Trong bối cảnh khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đang ngày càng phát triển và dần dần đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, để giải quyết được những bất cập nêu trên, cũng như nhằm đáp ứng những đòi hỏi nội tại của Việt Nam hiện nay trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bảo đảm sự tương thích với các yêu cầu của Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc, việc hình sự hóa các hành vi tham nhũng trong khu vực tư là hết sức cần thiết. Theo BLHS 2015, người có chức vụ, quyền hạn thuộc các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà thực hiện hành vi tham ô, nhận hối lộ hoặc người khác tác động đến hoạt động thực thi nhiệm vụ của những người này vì vụ lợi (đưa hối lộ, môi giới hối lộ) được xác định là những hành vi phạm tội về chức vụ. Quy định này cũng có ý nghĩa để chính sách xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng xảy ra ở khu vực trong và ngoài Nhà nước được thống nhất và phù hợp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê