Năm 2006 nhà em làm nhà cho anh trai. Con trai nhà Bác em tên ( CHÁNG MÍ PÓ ) đã cố tình bỏ thuốc diệt cỏ vào bể nước của nhà em ở đằng sau nhà. Hậu quả là cả gia đình em và một số anh em đến giúp làm nhà điều phải đi điều trị ở bệnh viện. Nhà em có nghi ngờ (CHÁNG MÍ PÓ) này. Công an đã vài lần lên nhà làm việc với ( CHÁNG MÍ PÓ ). Sau khi chị dâu thứ 3 nhà em đã mất, được vài hôm, ( CHÁNG MÍ PÓ ) đã bỏ chốn lên Trung Quốc, được khoảng gần hai tuần mẹ em và chị dâu thứ nhất cũng mất chỉ trước sau khoảng nửa ngày. Tất cả điều mất ở bệnh viện, gia đình em đưa thi thể về nhà để làm theo phong tục tập quán của mỗi dân tộc mình.Sau khi đưa thi thể mẹ em và chị dâu em đi chôn cấp được khoảng gần một tuần, công an có lên bảo gia đình em là giờ phải đào lại thi thể để xét nghiệm lại. Nhưng do phong tục tập quán của mỗi dân tộc nên gia đình tôi không đồng ý. CHÁNG MÍ PÓ bỏ đi trung quốc từ năm 2006 đến năm 2009, đã lén về nhà ngoại của ( PÓ). Lúc đó đã bị bắt giữ. Công an đã đưa ( CHÁNG MÍ PÓ ) về khai những gì ( PÓ ) đã làm. CHÁNG MÍ PÓ đã thừa nhận trước mặt hàng xóm là CHÁNG MÍ PÓ đã bỏ thuốc diệt cỏ vào bể nước nhà em. Công an bắt giữ và đưa ( PÓ ) đi cải tạo chỉ được 2 năm (PÓ) được thả về đến nay. Giờ công an nói vụ án đã hết hạn và người nhà em mất không rõ nguyên nhân. Cho em hỏi là hậu quả thiệt 3 mạng người vậy (PÓ) là tội phạm ở mức độ nào? CHÁNG MÍ PÓ phải bồi thường về thiệt hại mà (PÓ) đã gây ra cho nhà em không? và rất mong được công ty luật sư hướng dẫn em viết một cái đơn đề nghị công an hình sự xem lại vụ án xử phạt CHÁNG MÍ PÓ theo đúng quy định của pháp luật ?

Rất mong được công ty giúp đỡ.

Em xin cảm ơn!

Người hỏi: CMC

Bài viết được biên tập từ fanpage Công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Liên quan đến vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự 1999;

- Bộ luật dân sự 2005;

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;

- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo những thông tin mà bạn đã cung cấp, Pó đã khai và nhận là đã bỏ thuốc diệt cỏ vào trong bể nước nên nếu có chứng cứ cụ thể để chứng minh (như biên bản khám nghiệm tử thi) rằng cái chết của 3 người trong vụ án trên là hậu quả của hành vi do Pó thực hiện hành vi của Pó sẽ bị xếp vào tội giết người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 93 BLHS 1999:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;…”

Theo quy định của pháp luật hình sự thì tội này thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 612 BLDS 2005 nếu 3 người nhà bạn bị thiệt mạng mà được xác định là do hành vi của Pó gây ra thì Pó phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Về nguyên tắc, nếu đây là một vụ giết người thì Tòa án sẽ giải quyết luôn vấn đề bồi thường thiệt hại về tính mạng khi có yêu cầu. Nếu không có yêu cầu thì Tòa án chỉ thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Pó. Trong trường hợp có tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì bạn có thể thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, bạn phải đảm bảo thời khởi kiện theo quy định của pháp luật. Tại điểm 6 Mục I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP quy định:

“6. Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Việc xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được thực hiện như sau:

a) Đối với những trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh kể từ ngày 01-01-2005 (ngày Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực), thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm…”

Tại khoản 4 Điều 107 BLTTHS về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự có: “4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật” . Xét trong tình huống này, Pó đã phải chấp hành hình phạt, tức là vụ án này đã được giải quyết và hành vi của Pó ở đây đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự bằng một bản án. Do đó, về nguyên tắc nếu bạn có nộp đơn trình báo tại cơ quan công an thì hành vi của Pó cũng không được khởi tố lại vì đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự có quy định là thủ tục Tái thẩm như sau:

Điều 290. Tính chất của tái thẩm

Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó.

Điều 291. Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Những tình tiết được dùng làm căn cứ để kháng nghị tái thẩm là:

1. Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật;

2. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai;

3. Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;

4. Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật.

Điều 295. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

1. Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án phải tiến hành trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 23 của Bộ luật hình sự và thời hạn kháng nghị không được quá một năm, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.

2. Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được tiến hành trong cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, trong trường hợp phát hiện ra tình tiết mới làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó thì bạn có thể báo cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó. Nếu có một trong những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị tái thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Nếu không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát trả lời cho cơ quan, tổ chức hoặc người đã phát hiện biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT – CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ