Nếu chỉ là vấn đề cá nhân và mới là lần đầu thì tôi có thể bỏ qua, nhưng đây là lần thứ 2 vì trước đó chính 1 người khác trong nhóm đó đã bêu xấu vợ tôi 1 lần cũng trên trang cá nhân với nội dung tương tư, nhưng bài viết đó đã bị xóa. Trong hình ảnh, ngoài người viết lần này, thì người còn lại lần trước là 1 người được nhắc tên phía dưới. Người lần trước bêu xấu vợ tôi lại là vợ của Công an, nên chắc bạn đó nghĩ là không sợ ai hết. Sau đó tôi đã cảnh cáo nên người đó đã xóa bài. Còn lần này lại nghiêm trọng hơn, vì là admin của 1 group cộng đồng, nên sức ảnh hưởng rất lớn, ảnh hưởng đến cuộc sống và tinh thần của vợ tôi, đó là tôi chưa nhắc đến ảnh hưởng kinh tế do vợ tôi kinh doanh mua bán chó cảnh. Ngoài tấm ảnh tôi post lên, thì còn những hình ảnh khác về comment của những người không liên quan nhưng tin vào việc đó mà bàn tán, chưa kể đến có chia sẻ bài viết đó ra hay không? Tôi chắc chắn là vợ tôi không có làm những việc nêu trên, do kinh tế gia đình tôi không tệ và hơn nữa là nhóm người đó hoàn toàn không có bất cứ bằng chứng gì chứng minh lời họ viết là sự thật, nhất là trong cộng động của 1 thành phố trực thuộc trung ương, có người đang là cán bộ công an tham gia hưởng ứng.

Xin Luật sư tư vấn cho tôi về những vấn đề sau đây:

1. Với những chứng cứ nêu trên thì có đủ để thưa người này được không, thưa về tội gì và có chắc chắn cấu thành tội hay không ?

2. Bài viết bôi nhọ tương tự cách đây gần 1 năm của người trong nhóm này lần trước trên facebook cá nhân đó đã bị xóa, thì cơ quan chức năng có tìm lại được không ?

3. Nếu hoàn toàn đủ cơ sở thưa, thì tôi cần làm những gì, gửi cho cơ quan nào thụ lý ? Tôi mong nhận được tư vấn sớm. Xin cảm ơn Luật sư!

Người gửi: B.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

Bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nghiêm trọng trên facebook ?

 Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý 

Bộ luật dân sự năm 2005. 

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi năm 2009. 

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội

Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện 

2. Nội dung trả lời:

Điều 37 BLDS 2005 quy định:

Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín  

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Như vậy, cá nhân có quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Mọi hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hành vi vi phạm pháp luật.

Như bạn trình bày thì người admin của một group (tạm gọi là A) đã dùng hình ảnh và những lời lẽ xúc phạm vợ bạn trên facebook. Tùy vào mức độ xúc phạm mà hành vi này bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trach nhiệm hình sự theo quy định sau:

Thứ nhất,  xử phạt vi phạm hành chính

A sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP:

Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

Thứ hai, truy cứu trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp A dùng facebook để xúc phạm nhân phẩm, danh dự của bạn đến mức nghiêm trọng thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm nhục người khác”  theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự:

“Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a - Phạm tội nhiều lần;

b - Đối với nhiều người;

c - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d - Đối với người thi hành công vụ;

đ - Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Đối với bài viết cách đây một năm đã bị xóa, thì cơ quan chức năng rất khó có thể lấy lại được thông tin và xử lý cho bạn.

Về thủ tục: bạn có quyền làm đơn tố giác theo Điều 101 như sau

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm
Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003: "1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 . Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê