1. Bồi thường khi gây thương tích cho người khác?

Thưa Luật sư, Tôi tên là Nguyễn Thị K.T, vào ngày 11/03/2015 con trai của tôi năm nay được 19 tuổi trong lúc đang đi chơi thì gặp một nhóm 5,6 thanh niên chặn lại đánh, khi con tôi thoát được nhóm thanh niên đó thì chạy về nhà của bạn nó lấy 1 cây rựa và đến tìm bọn đó đánh trả trong lúc xông vào đánh nhau con tôi đã dùng rựa đó chém vào tay của 1 người trong nhóm đó gây thương tích gãy 1 ngón tay giữa phải bắt vít, ngón út và áp út bị thương.

Giờ bên bị hại viết đơn kiện và đòi bồi thường thiêt hại 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng) trong lúc nằm viện chi phí viện phí hêt 6.000.000đ( sáu triệu đồng) Vậy nhờ luật sư tư vấn giúp cho tôi nên giải quyết như thế nào vì số tiền 20 triệu cũng khá lớn. Nếu ko bồi thường thì con tôi sẽ bị khởi tố nặng không ạ? Rất mong sự hồi âm của Luật sư. Chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.G

Bồi thường khi gây thương tích cho người khác?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn công ty xin được trả lời như sau:

Hiện nay theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm có quy định như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Hơn nữa con trai bạn có hành vi dùng rựa đó chém vào tay của 1 người trong nhóm đó gây thương tích gãy 1 ngón tay giữa phải bắt vít, ngón út và áp út bị thương. Như vậy căn cứ vào kết luận giám định tỉ lệ thương tật mà con trai bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104, Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Tuy nhiên theo Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì tội phạm tại khoản 1 Điều 104 chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Do đó trong trường hợp này tốt nhất bạn nên thỏa thuận với gia đình bị hại để giải quyết mọi chuyện tốt đẹp.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay nội dung: Tư vấn về việc đánh người gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ?

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây thương tích người khác 63% ?

Kính chào Luật sư!. Tôi có một vấn đề pháp lý cần được Luật sư trợ giúp như sau: Em trai tôi có cho môt người tên A vay 8 triệu đồng với tiền lãi tự trả theo khả năng (trả bao nhiêu cũng được). Ngày mùng 04//01/2016 (Âm lịch) người này goi điện cho e tôi bảo ra trả tiền. Em tôi chạy xe ra tới nơi hẹn thì bị một người khác tên B là anh em với A chém vào người, em tôi đánh trả và giật được con dao dài khoảng 60cm mang về.Vừa về đến nhà thì Ông C là bố B chạy qua nhà em tôi sợ Ông C đánh nữa nên sẵn con dao liền quơ ông C, lúc đó mẹ tôi thấy nên chạy ra can cho ông C chạy vê nhà, trong lúc quơ dao Ông C bị trúng bàn tay chảy máu.
Sau đó vợ C goi điên cho 3 đứa con trai A,B,D.E qua nhà đánh ba tôi bị gãy mũi thương tích là 8%, chém lên đầu em tôi với thương tich la 63%. Với sự việc như trên, công an đã ra quyet định khởi tố vụ án gây thương tích nhưng đến nay vẫn chưa thấy bắt các đối tượng trên. Xin Luật gia cho biêt, nếu đem ra xét xử thì những kẻ trên bị tội gì? Mức phạt bao nhiêu? và tại sao không tiến hành bắt ngươi vi phạm mà chỉ cấm đi khỏi nơi cư trú?.

Tôi xin cảm ơn!.

Truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây thương tích người khác 63% ?

Luật sư tư vấn uật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, có thể cấu thành tội gì tương ứng với mức hình phạt bao nhiêu?

Theo như thông tin bạn đã cung cấp như trên, những đối tượng trên có thể bị xử lý hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 nếu thỏa mẫu các dấu hiệu của tội này, cụ thể:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a. Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c. Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d. Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ. Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e. Có tổ chức;

g. Trong thời gian đang bị giam giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h. Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i. Có tính chất côn đò hoặc tái phạm nguy hiểm;

.....................

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến k khoản 1 điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Một hành vi đã thực hiện được coi là phạm Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS) nếu thỏa mãn các dấu hiệu sau đây:

Mặt khách quan của tội phạm:

- Về hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, thể hiện nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

- Về công cụ, phương tiện sử dụng: Những loại phương tiện ít nguy hiểm đến tính mạng để thực hiện hành vi phạm tội có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người hay đơn thuần chỉ gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe.

- Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích , tổn hại sức khỏe: Nếu một người muốn tước đoạt sinh mạng (GIẾT) người khác thì người phạm tội sẽ tấn công vào những nơi xung yếu trên cơ thể như: vùng đầu, vùng ngực, vùng bụng…, ngược lại có thể xác định là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe mà không phải là hành vi giết người.

- Mức độ nguy hiểm của hành vi: Xác định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập và cường độ tấn công mạnh không?.

Tóm lại, đối với hành vi của nhóm Đối tượng trên mà bạn miêu tả thì cầm dao chém đấy có thể bị coi là phương tiện, công cụ nguy hiểm để thực hiện hành vi. Thực tế, tỉ lệ thương tích của em trai bạn là 63% đây là một căn cứ cấu thành tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Mặc khác, Bố bạn bị thương tật 8% (dưới 11%) sau khi có giám định thương tích nhưng các đối tượng trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc 1 trong các trường hợp sau:

+ Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người (dao nhọn, súng,đạn...)

+ Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặ gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân để lại trạng thái thất thường, không thể chữa trị được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11 % nhưng làm mất chức năng bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của nạn nhân…

Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Chủ thể của tội phạm: Là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1, 2 và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 3, 4, điều 104 Bộ luật hình sự.

Khách thể của tội phạm: Đó là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe.

Như vậy,theo phân tích ở trên nếu hành vi của các đối tượng trên thỏa mãn những dấu hiệu pháp lý như đã phân tích cụ thể ở trên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS) và căn cứ vào khoản 3 - Điều 104 điều này thì hành vi chém vào đầu em trai bạn với thương tích 63% thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt từ 5 năm đến 15 năm tù.

Thứ 2, quy định về việc cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các đối tượng trên.

Điều 88. Tạm giam

1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

Điều 92. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ. Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

4. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

5. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Như vậy, trong Bộ luật tố tụng hình sự có quy định trong một số trường mà bị can, bị cáo phạm vào tội ít nghiêm trọng , nghiêm trọng mà không có dấu hiệu bỏ trốn, cản trở việc truy tố, xét xử...thì có thể được xem xét và ra quyết định tại ngoại cấm đi khỏi nơi cư trú mà không phải bắt tạm giam trong thời gian chờ xét xử. Tuy nhiên, bị can, bị cáo cũng phải chấp hành một số nghĩa vụ khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này.

Điều 91. Cấm đi khỏi nơi cư trú

1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình, phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập.

Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó.

3. Bị can, bị cáo vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

>> Tham khảo thêm nội dung: Quy định của pháp luật về xử lý đối với hành vi đánh người gây thương tích ?

3. Gây thương tích trong tình trạng tinh thần bị kích động ?

Thưa luật sư! Người nhà em trong lúc đang uống bia thì bị bàn bên cạnh khiêu khích ( ném đồ ăn vào người, có những hành vi kém văn hóa ) trong lúc đang có hơi men trong người không kiểm soát được hành vi, nên đã cùng bạn đánh người kia.(người nhà em chỉ ôm người kia cho bạn đánh).

Mọi hành vi đều được camera của quán ghi lại, người kia bị thương tổn 18%, đã đưa đơn kiện người nhà em.trong trường hợp này người nhà em lại đang có án trước đó liệu người nhà em có được xử mức án thấp trong khung án không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Gây thương tích trong tình trạng tinh thần bị kích động ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Do không rõ hết về các tình tiết của sự việc mà Bạn nói và không rõ về án trước là án gì. Do đó, Tôi dẫn chiếu một Tội có dấu hiệu giống hành vi mà Bạn nói là Tội cố ý gây thương tích được quy định trong Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, như sau:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm."

Theo đó, người phạm tội có thể được hưởng mức án thấp trong khung hình phạt nếu Tòa án căn cứ vào:

- Một là, tinh chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, ở đây là hành vi gây thương tích đó thể hiện ở hậu quả gây thương tật, cách thức thực hiện hành vi, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ... ;

- Hai là các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định trong Bộ luật hình sự:

"Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Điều 48. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; ...";

-Ba là Nhân thân người phạm tội như về án tích, về thái độ chấp hành pháp luật của người đó ...;

- Bốn là quy đinh về khung hình phạt đối với tội đó và các quy định khác về trách nhiệm hình sự.

Để quyết định hình phạt và có thể quyết định hình phạt đối với tội đó.

Vì vậy, Trong trường hợp này, Tuy rằng có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động, nhưng nếu người phạm tội đang có án tích thì rất khó để tòa án áp dụng mức thấp của khung hình phạt cho người đó.

- Bạn cần chú ý là đối với tội có ý gây thương tích thì khi khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì có thể thỏa thuận, bồi thường ... để đề nghị người bị hại rút đơn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quy định của luật hình sự về hình phạt đối với tội có ý gây thương tích ?

4. Gây thương tích cho người khác thì phải chịu trách nhiệm như thế nào?

Kính chào Luật Minh Khuê! tôi có một vấn đề bức xúc muốn được tư vấn như sau: tôi là thầy giáo; trong một hôm tôi đi làm về thì bị một thanh niên (tên B) dùng dao chém vào người tôi. Tôi có đem sự việc ra tố cáo với công an.
Công an đã khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích đối với anh B; và có hướng dẫn cho tôi về yêu cầu bồi thường thiệt hại. nhưng tôi không hiểu phải yêu cầu những khoản gì? Vậy nên nhờ công ty tư vấn giúp tôi về trách nhiệm mà thanh niên B phải chịu và số tiền bồi thường được nhận là như thế nào?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã xác định mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Chính vì vậy khi bị bất kể cá nhân nào có hành vi xâm phạm đến sức khỏe thì mọi cá nhân đều có quyền đưa đến cơ quan có thẩm quyền: Công an, Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.

Khi xâm phạm đến sức khỏe của người khác thì người vi phạm sẽ phải gánh chịu một số trách nhiệm như sau:

1. Trách nhiệm dân sự với người bị thiệt hại

Việc gây thương tích đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác; theo pháp luật về dân sự thì việc xâm phạm sức khỏe người khác sẽ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thể phải bồi thường những khoản như sau:

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại như: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ

Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (áp dụng với người có thu nhập), ví dụ:

+ Có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

+ Mức thu nhập không ổn định thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

+ Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

Trong đó chi phí hợp lý được hiểu là: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

Ngoài ra, người gây thương tích cho người khác còn phải bồi thường tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

2. Trách nhiệm hình sự với Nhà nước

Hành vi cố ý gây thương tích tùy vào mức độ mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích theo quy định của Bộ luật hình sự:

2.1 Nếu gây thương tích từ 11%- 30% hoặc dưới 11% (khi có một trong các tình tiết dưới đây) thì sẽ bị xử phạt với mức tù từ 6 tháng đến 3 năm hoặc cải tạo không giam giữ đến 3 năm:


a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2.2 Nếu gây thương tích cho một người với tỷ lệ từ 31% đến 60% hoặc 11%-30% và có một trong các tình tiết trên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% hoặc thuộc trường phạm tội 2 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm thì sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

2.3 Bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các tình tiết trích dẫn ở trên

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; hoặc tỷ lệ tổn thương của mỗi người từ 11% đến 30% và có một trong các tình trích dẫn ở trên.

2.4 Phạt tù từ từ 07 năm đến 14 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Làm chết người;

Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; hoặc tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k liệt kê ở trên.

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k ở trên
2.5 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

Làm chết 02 người trở lên;

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k như trích dẫn ở trên.

Đối với trường hợp của anh, người B gây thương tích cho anh là 66%; và có sử dụng hung khí nguy hiểm (con dao) nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự với mức phạt là 5 năm đến 10 năm tù.

Đây là những trách nhiệm cơ bản mà người có hành vi gây thương tích cho người khác phải chịu trách nhiệm. Mọi vấn đề vướng mắc của khách hàng có thể liên hệ đến tổng đài 1900.6162 để được tư vấn cụ thể hơn Trân trọng cảm ơn!

5. Gây thương tích cho người khác ở mức độ nào thì mới bị xử lý hình sự ?

xin chào luật sư!ah trai tôi bị đám thanh niên làng bên đánh nhầm gây thương tích tòa án đã xử và phạt 4 năm tù giam và bồi thường 42 triệu.tòa án có quy định thời hạn bồi thường nếu hết thời hạn mà gia đình tôi vẫn không nhận được tiền bồi thường thì gia đình tôi phải làm gì?

Luật sư tư vấn:

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp những quy định của pháp luật hình sự về tội danh cố ý gây thương tích và hình phạt:

Nếu quá thờ hạn bồi thường mà bên có nghĩa vụ không bồi thường đúng và đủ theo đúng như bản án của Tòa thì gia đình bạn có thể làm đơn yêu cầu cơ quan thi hàn án trực tiếp cưỡng chế thi hành án

Điều 7. Quyền yêu cầu thi hành án

Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.

BẠn cần phải nộp đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án

Điều 31. Đơn yêu cầu thi hành án

1. Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

2. Người làm đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có.

3. Người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật này.

Nêu người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì cơ quan thi hàng án tổ chức thi hành án và cưỡng chế tài sản của người có nghĩa vụ

Nguyễn Văn LInh là lái xe cho công ty cổ phần B , trong quá trình được giao nhiệm vụ vận chuyển hành khách từ Đà Nẵng đi Hà Nôi , tới địa phận tỉnh Quảng Bình , LInh phóng nhanh vượt ẩu tranh giành khách gây thiệt hại cho chị Trang là người đi xe máy ngược chiều , đi đúng làn đường , chị Trang bị thương tích 40% sức khỏe và thiệt hại 19 triệu đồng , LInh bị TAND phạt 5 năm tù vì tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng . tuy nhiên khi giải quyết trách nhiệm dân sự. cty cổ phần B và cả Linh đều k thừa nhận trách nhiệm , công ty cổ phần cho rằng hành vi của LInh là trái pháp luật nên B phải chịu trách nhiệm , LInh lại cho rằng trách nhiệm thuộc về công ty , biết rằng tổng thiệt hại là 75 triệu đồng . Hãy bảo vệ quyền lợi của a) Công ty cổ phần B b) Nguyễn Văn LInh

TRong trường hợp này thì xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt ahij gây ra cho chị Trang thì theo định tại Điều 622 Bộ luât dân sự năm 2005

Điều 622. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra

Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

> Chị TRang có quyền đồi công ty B phải bồi thường khi lái xe của công ty B gây thiệt hại Sau đó thì trách nhiệm hoàn trả khoản tiền này thuộc về Linh ,Linh phải có trách nhiệm bồi thường khoản tiền mà công ty đã trả thay cho Linh

Cho em hỏi... Bố mẹ em đều là đảng viên, công chức nhà nước. Do mọi người bàn tán bố em cặp bồ với em dâu. Nên mẹ con em có tìm đến nhà cô ta lời qua tiếng lại và e đã xông vào đánh cô ta nhưng k xảy ra thương tích. Bây giờ cô ta đòi kiện em vậy e bị xử phạt như nào và bố mẹ e có ảnh hưởng đến công việc k ạ??? Và làm thế nào có thể giảm nhẹ hình phạt ạ??? Em mong luật sư tư vấn giúp em với ạ!.. Em xin trân thành cảm ơn ạ! Tũn...!

NHư vậy trường hợp này của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 5 khoản 1 và 3 Nghị định 167/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội

Điều 5 Vi phạm về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

Thưa luật sư. Tôi có 1 vấn đề về luật pháp muốn nhờ luật sư giải đáp giúp. Sự việc là, trong gia đình tôi có tranh chấp cái vả nhau dẫn đến xô xác nhau. Nhưng chỉ là chị em trong nhà ( độ tuổi từ 17 đến 20 ), không ai bị thương tích gì cả. Cũng không ai thưa kiện. Cũng không phiền hà gì ai. Nhưng công an phường bất chúng tôi vào lấy lời khai và yêu cầu đóng phạt mỗi người 750.000 ngàn. Lí do gât mất trật tự an ninh như vậy có đúng không thưa luật sư ( lí lịch nhân thân tốt, không tiền án tiên sự, lần đầu gây tranh cải mà phạt hành chánh có nặng quá không, hay công an xử ép). Mong luật sư giúp đỡ trả lời sớm giúp em

Theo quy đinh tại khoản 2 Điều 5 NGhị định 167/2013 thì gia đình bạn có thể bị xử lý theo quy định

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

> Như vậy nếu có hành vi trên thì hoàn toàn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính

Xin chào Luật sư. Tôi có vấn đề thắc mắc mong nhờ luật sư tư vấn giúp. A và B là 2 người bạn thân học chung đại học. Trước đó hai người đã có mâu thuẫn với nhau. Để giải quyết mâu thuẫn, một hôm A đã dùng một gậy gỗ đánh vào cổ của B làm B ngã xuống. B xin tha nhưng A dùng gậy tiếp tục đánh vào đầu của B làm B ngất xủi. Giám định tỷ lệ thương tích B là 61%. Hỏi A phạm tội gì? Xin cảm ơn Luật sư ạ!

Như vậy A sẽ bị truy tố theoquy địnhtại kHoản 3 Điều 104 BLHS

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Vào ngày 25/6/2015 em có xảy ra vụ va chạm đánh nhau và 1 người bị 5% thương tích,em có dùng cái đĩa sứ ném về phía người đó.nhưng người đó bị thương ở ngon chân,hiện nay vẫn chưa xong.Nhưng e được biết thời gian điều tra cho phép không quá lâu để cho phép từ đó đến bây giờ,xin luật sư tư vấn giúp em.Cảm ơn luật sư...! Đã gửi từ iPhone của tôi

TRường hợp của ban nếu gây thương tật với mức độ 5 % nhưng nếu gây cố tật cho nạn nhân thì cũng sẽ bị truy cusu tách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104 BLHS

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
Về thời hạn điều tra bạn hỏi thì theo quy định tại điều 119 BLTTDS

Điều 119 Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

E chào công ty luật Em có người bạn tham gia giao thông và gây tai nạn với người bên quân đội nhưng là không cố ý. giờ người ta đỡ rồi, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nữa. -Công ty cho em hỏi 1 số điều là: Cơ quan điều tra bên quân đội được quyền gọi nhân chứng lấy lời khai không? nếu được thì gọi bao nhiêu lần và phải có giấy tờ gì không? Bị cáo có liên quan bị gọi bao nhiêu lần? nếu trong trường hợp giám định thương tích 50% thì mức bồi thường là bao nhiêu? em xin cảm ơn !

Theo quy định tại điều 55 BLTTHS

Điều 55 Người àm chúng

1. Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.

4. Người làm chứng có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;

b) Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án.

Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự; khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ luật hình sự.

Như vậy nếu như có giấy triệu tập đến tòa thì người làm chúng phải đến tòa Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự

Trường hợp bạn hỏi nếu gây thương tật cho nạn nhân 50 % thì có thể bị truy cứu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Về mức bồi thường thiệt hại thì về nguyên tắc do hai bên thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì do tòa án quyết định

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm BLDS

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

cụ thể Nghị quyết 03/2006 HƯớng dẫn quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Cháu nhà tối bạn bè đánh nhau rồi gọi cháu ra tham gia đánh nhau và cháu đã nhận bản án 34 tháng, đến thời điểm này cháu đã thi hành được 11 tháng. Trưa ngày 20 tháng 5 vừa rồi gia định tôi nhận được điện thoại là cháu phải đưa đi cấp cứu trong tình trạng hôn mê sâu ở bệnh viện tỉnh Ninh Bình rồi chuyển lên Bạch Mai với nhiều thương tích bất thường khắp cơ thể, đến hôm nay ngày 25.5 cháu vẫn chưa tỉnh và nguy cơ cháu mất là rất cao. Rất mong Luật Minh Khuê tư vấn cho gia đình tôi nên làm gì trong lúc này.

Như trường hợp của con bạn còn phải xác định xem con bạn bị ai đánh trong tù những tù nhân đánh con bạn hay con bạn bị công an đánh trong trại giam. Và còn căn cú vào kết quả giám định về sức khỏe của con bạn. nếu có hành vi đánh người của những tù nhân thì tùy tính chấ mức độ những nguwoif đó sẽ bị xử lý theo Điều 104 BLHS hay quy định về tội giết người theo quy định tại Điều 93BLHS

Điều 93. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
c) Giết trẻ em;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
NGoài ra nếu công an có hành vi dùng nhục hình với con bạn thì sẽ bị truy cúu trách nhiệm hình sự

Điều 298. Tội dùng nhục hình
1. Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Tôi có một đứa cháu đánh người gây thương tích 24% do bức xúc, sau khi gây án công an đã vào cuộc làm việc,cháu tôi luôn chấp hành tốt có nơi ở ổn định, nhân thân tốt, có hộ khẩu rỏ ràng nhưng vks ra lệnh bắt cháu tôi có đúng pháp luật hay không? gia đình bảo lĩnh cũng không được vậy nhờ luật sư tư vấn và hướng dẫn. cám ơn

Theo quy định cua Bộ luật tố tụng hình sự

Điều 81 Bắt người trong trường hợp khẩn cấp

1. Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:

a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

3. Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này.

4. Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn.

Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.

Điều 82 Bắt người phạm tội qủa tang hoặc đang bị truy nã

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Điều 83 nHững việc cần làm sau khi bị bắt hoặc nhận bắt

1. Sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

NHư vậy theo quy dịnh trên nếu con bạn thực hiện hành vi phạm tội được quy đinh trong BLHS thì sẽ bị bắt giữ và viên kiểm soát hoàm toàn có quyền ra lện h bắt giữ

Và theo quy định của BlTTHS về việc bảo lĩnh thì

Điều 92 Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ. Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

4. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

5. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

>> Như vậy Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh. Vấn đề bảo lĩnh là do cơ quan có thẩm quyền quyết định,nên khong phải bất cứ vụ việc nào cũng được bảo lĩnh Việc bảo lĩnh là do cơ quan có thẩm quyền quyết định nên nếu họ không đồng ý thì bạn không thể bảo lĩnh cho con bạn

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp. Trân trọng./.

6. Khi trẻ em gây thương tích thì gia đình có phải chịu trách nhiệm không?

Thưa Luật sư, Hôm qua cháu được yêu cầu lên văn phòng của Công an Thành phố để làm bảo lãnh cho em trai cháu. Khi đến, cháu có làm việc với điều tra viên (ĐTV). ĐTV đó thông báo rằng em cháu và nhóm bạn đi đánh nhau với 1 đối tượng khác và làm người đó bị thương. Hiện giờ người bị thương đó khởi kiện. Sau đó, ĐTV đó cho cháu xem bản hỏi cung (cháu không nhớ chính xác tiêu đề ạ) giữa bên điều tra và em trai cháu, rồi 02 bản tự khai do chính tay em cháu ghi. Nội dung đại khái là 2 bên có xích mích, rồi mấy đứa bạn bên em cháu cùng nhau đi đến tiệm net để đánh người, em cháu đi xe cùng 1 bạn và đứng ngoài tiệm (theo như lời khai của em cháu). Sau đó, ĐTV yêu cầu cháu ký xác nhận vào 2 bản tự khai của em cháu, viết Đơn bảo lãnh, đưa sổ hộ khẩu cho ĐTV đó kiểm tra, ĐTV đó thông báo rằng sẽ giữ sổ hộ khẩu, rồi trong quá trình điều tra nếu có yêu cầu sẽ liên hệ với cháu để đưa em cháu lên làm việc.
Cháu có vài vấn đề thắc mắc như sau ạ:
+ ĐTV đó giữ sổ hộ khẩu gốc của nhà cháu như vậy là đúng pháp luật không ạ? Nếu đúng thì mục đích của việc giữ lại là gì ạ?
+ Lúc xem 2 bản tự khai, bản đầu tiên em cháu trình bày có nói đến việc em cháu và bạn nó bị đối tượng khởi kiện trên đánh gây thương tích, nhưng nó bỏ qua chuyện (bản viết này kết thúc rất kỳ lạ, không có dòng ghi:...điều khai là đúng sự thật...chịu trách nhiệm trước pháp luật; sau khi về nhà ba mẹ hỏi lại, cháu mới sực nhớ phía sau có những dòng trống mà không có gạch chéo bỏ đi - không biết điều này có nguy hại gì không ạ?) Bản tự khai thứ 2 em cháu cũng ghi lại những điều giống bản 1, nhưng lược bỏ đi chuyện em cháu bị đánh, chỉ trình bày sự việc, và kết thúc là dòng ghi:...chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khi cháu hỏi vì sao lại có 2 bản tự khai, ĐTV đó nói bản đầu viết không rõ nên viết lại. (điều này càng làm cháu nghi ngờ về sự kết thúc không hợp lý của bản 1)
+ Nếu bị khởi kiện, gia đình cháu phải giải quyết như thế nào ạ? Nếu như hòa giải, bồi thường, bên khởi kiện có thể đợi đến lúc em cháu đủ tuổi thành niên để kiện lại để em cháu phải đi tù không ạ? Gia đình cháu có thể kiện bên kia tội gây thương tích không ạ? (về bằng chứng chỉ có video quay lại cảnh em cháu bị đánh, nó giấu gia đình nên không đi bệnh viện không có giấy chứng thương ạ)
Rất mong Luật sư giúp cháu ạ! Trân trọng kính chào!

Khi trẻ em gây thương tích thì gia đình có phải chịu trách nhiệm không?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:


- Việc giữ lại sổ hộ khẩu của Điều tra viên có đúng không?

Hiện nay pháp luật không có quy định nào đề cập tới vấn đề phải nộp sổ hổ khẩu bản chính như trường hợp của bạn, Vì vậy, không thể kết luận được việc cầm giữ này có hợp pháp hay không. Tuy nhiên để phục vụ cho công tác điều tra thì việc làm này của Điều tra viên có thể được chấp nhận.

- Một số thắc mắc về cách ghi biên bản lời khai?

Do bạn chưa cung cấp ngày xảy ra sự việc nên không thể xác định được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 hay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sẽ được áp dụng cho nên chúng tôi sẽ tư vấn bằng cả hai luật. Theo Nghị quyết 144//2016/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự sẽ lùi hiệu lực từ ngày 01/7/2016 cho tới Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành và được áp dụng những quy định của Bộ luật này mà có lợi cho người phạm tội

+ Điều 95, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Điều 133, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

1. Khi tiến hành hoạt động tố tụng phải lập biên bản theo mẫu thống nhất.

Biên bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc người liên quan đến hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.

2. Biên bản phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định. Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của họ.

Trường hợp người tham gia tố tụng không ký vào biên bản thì người lập biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.

Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.

Trường hợp người tham gia tố tụng có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những người tham gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.

Điều 132-Bộ luật tố tụng hình sự 2003; Điều 184-Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về biên bản hỏi cung như sau:

1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.

Biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can.

2. Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó.

3. Trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch; người phiên dịch phải ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.

Trường hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại diện của bị can thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho những người này biết quyền và nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả lời của bị can.

4. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được thực hiện theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.

Với quy định này nhận thấy rằng việc ghi biên bản lời khai phải theo mẫu thống nhất về ghi biên bản. Theo đó kết thúc mỗi biên bản phải có dòng chữ với nội dung biên bản này đã được lập xong kết thúc vào hồi....giờ và đọc cho những người có liên quan cùng nghe..... Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp việc ghi biên bản lời khai của Điều tra viên như vậy là không đúng.

+ Mặt khác, do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ không xác định được tuổi cụ thể của em bạn dưới 18 tuổi là bao nhiêu? 14 tuổi hay 16 tuổi....Bởi mỗi độ tuổi khác nhau pháp luật lại có những quy định khác về hỏi cung, lấy lời khai. Điều 421-Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 421. Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất

1. Khi lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

2. Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ.

Việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự.

3. Người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa, người đại diện.

Khi hỏi cung người từ đủ 14 tới 16 tuổi phải có mặt của gia đình, người giám hộ trừ trường hợp người này không có gia đình hoặc gia đình từ chối tham gia hoặc vắng mặt có lý do chính đáng. Điều này xác định rằng việc lấy lời khai đối với em bạn có hợp pháp hay không.

+ Như vây, trong biên bản ghi lời khai mà thiếu những nội dung và hình thức trên sẽ gây ảnh hưởng bất lợi tới em bạn. Chẳng hạn không ghi ngày tháng lập xong thì rất có thể bản lấy lời khai sẽ được viết lại; không có người giám hộ, đại diện thì chắc chắn quyền lợi của em bạn không được bảo đảm do yếu tố tâm lý lứa tuổi,...; .....

- Cách giải quyết khi bị khởi kiện và có bị khởi kiện sau khi em đã thành niên?

Để giải quyết được vấn đề này cần phải xác định được tuổi của em trai bạn, bởi liên quan tới vấn đề cần giải quyết sau đây:

+ Nếu gia đình bị hại khởi kiện bằng một vụ án dân sự đòi bồi thường thì theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xác định có lỗi, có thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường nhưng có xem xét tới lỗi của bị hại. Tức là em bạn hoặc gia đình bạn phải bồi thường. Nếu em bạn dưới 16 tuối thì gia đình bạn phải bồi thường, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì được lấy tài sản của em bạn (nếu có) để bù đắp vào phần thiếu; nếu em bạn trên 16 tuổi thì phải tự bồi thường bằng tài sản của mình (nếu có) và phần còn thiếu sẽ được lấy tài sản của cha mẹ để bồi thường. Tuy nhiên để bớt những khiếu kiện không đáng có xảy ra chúng tôi góp ý với gia đình bạn nên gặp gỡ gia đình bị hại để thương lượng bồi thường, không khởi kiện.

+ Xác định em bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Thông tin bạn cung cấp chúng tôi không thể xác định được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi do em bạn thực hiện và hậu quả xảy ra. Cho nên chúng tôi sẽ được ra hướng dẫn chung: Căn cứ điều 12-Bộ luật hình sự 1999, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy, nếu em bạn mà đủ 16 tuổi thì có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo điều 104-Bộ luật hình sự năm 1999; nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trong do cố ý hoặc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

+ Có bị khởi kiện sau khi em bạn đã thành niên hay không?

Theo quy định tại Điều 23-Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm đối với tội ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội nghiêm trọng; 15 năm đối với tội rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Để có thể áp dụng quy định này, phải xác định được tuổi của em bạn vì thỏa mãn điều kiện tuổi sẽ xác định được em bạn có phạm tội hay không và chỉ khi xác định được phạm tội thì mới áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là nếu em bạn không đủ tuổi thì sẽ không phạm tội và sau đó có khởi kiện thì em bạn cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Gia đình bạn có nên khởi kiện bên kia tội gây thương tích hay không?
Để có thể khởi kiện bạn phải có các bằng chứng để chứng minh thông qua tài liệu, chứng cứ, video, bản giám định tỷ lệ thương tích....Tuy nhiên cũng phải xác định được tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bên kia vì dù có hành vi đánh, đấm...nhưng không đủ tuổi, không có năng lực thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Từ sự việc của bạn chúng tôi thấy rằng gia đình bạn nên xem xét, đánh giá thật cẩn thận việc có khởi kiện hay không vì em bạn cũng đang ở tình trạng bất lợi. Rõ ràng thấy một điều xảy ra là khi bạn khởi kiện thì gia đình kia cũng kiện, tức là bên bào cũng gặp bất lợi. Cho nên gia đình bạn vẫn cần phải thương lượng với gia đình bên kia về sự việc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh KHuê