Công an phường đã xác minh và chuẩn bị hồ sơ gửi lên Quận thì mẹ của kẻ lừa tiền tôi (bà A) đã viết giấy cam kết thay mặt trả số nợ đó cho tôi trong vòng 3 tháng (từ 20/4/2015 đến 20/7/2015), nên tôi đã rút đơn kiện về. Khi rút đơn kiện công an phường đã buộc tôi viết 1 tờ giấy cam kết là sau này không được khởi kiện lại vụ án lừa đảo của D nữa.
Hiện tại đã hết thời gian 3 tháng nhưng bà A không chịu trả tiền, tôi đã lên phường hỏi lại nhưng được hướng dẫn đưa đơn ra tòa để khởi kiện án dân sự đối với bà A.
Tôi muốn hỏi Luật sư là trường hợp của tôi như vậy thì có thể kiện tiếp tục hành vi lừa đảo của D ra cơ quan công an Quận đượcnữa hay không, đồng thời có thể đưa đơn tại tòa án về việc bà A không chịu trả nợ cho tôi được không, và mức án của 2 người đó sẽ như thế nào?
Mong luật sư có thể giải đáp giúp tôi, tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Cách giải quyết khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung trả lời:

Hiện tại sau 3 tháng mà bà A không trả tiền cho bạn, bạn hoàn toàn có thể khởi kiện lại D với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Pháp luật không quy định là rút đơn kiện rồi thì không được kiện lại. Bộ luật hình sự quy định như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Bạn hãy nộp lại đơn kiện tại cơ quan công an hoặc khởi kiện lên Toà án để được giải quyết.

Về phương diện dân sự, bạn có thể liên hệ với bà A và thoả thuận lại việc trả tiền (ví dụ gia hạn thêm và yêu cầu bồi thường), bạn cũng có thể kiện bà A về việc không thực hiện nghĩa vụ dân sự. Bộ luật dân sự có quy định:

Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự  

1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.           

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.