Sau khi vào nhà, chúng vờ xin nước uống rồi xông vào đe doạ và định trói bà P. Bà P sợ hãi van xin K, H và nói: “Các anh lấy gì thì cứ lấy, tôi chỉ là người giúp việc thôi”. K và H phá két sắt và lấy đi của nhà ông N 70 triệu đồng, 50 chỉ vàng cùng một số ngoại tệ .Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 600 triệu đồng. Sau khi K, H lấy được tài sản và bỏ đi thì bà P mới chạy ra đường hô hoán. Một tuần sau K và H bị công an bắt giữ. Có 4 ý kiến khác nhau về tội danh của K và H:

a. K và H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì chúng đã có hành vi gian dối đánh lừa người giúp việc.

b. K và H phạm tội trộm cắp tài sản vì chúng có hành vi lợi dụng lúc gia đình ông N đi vắng để lấy tài sản. Tuy bà P ở nhà nhưng bà P chỉ là người giúp việc, không phải là chủ sở hữu của những tài sản đó.

c. K và H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì chúng công khai lấy tài sản trước mắt người giúp việc.

d. K và H phạm tội cướp tài sản

Quan điểm nào là chưa đúng , quan điểm nào là chính xác nhất ? Giả định K đủ 17 tuổi và H đủ 15 tuổi thì có vụ đồng phạm không và mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng trong trường hợp phạm tội nêu trên là bao nhiêu năm tù ? Rất mong nhận đc tư vấn sớm nhất của luật sư !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự  của Luật Minh Khuê.

   tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản , công nhiên chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

 Luật sư tư vấn luật hình sự gọi:  1900 6162

Trả lời

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật hình sự sửa đổi năm 2009  

II. Nội dung tư vấn

Trước tiên, ta phân tích khái niệm tài sản:

Tài sản là bất cứ thứ gì có giá trị mà có thể chuyển đổi được thành tiền mặt. Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ. Ví dụ về các tài sản bao gồm:

Tiền và các khoản tương đương tiền - chứng chỉ tiền gửi, kiểm tra và các tài khoản tiết kiệm, tài khoản thị trường tiền tệ, tiền mặt vật lý, Tín phiếu kho bạc;

Bất động sản - đất và bất kỳ thiết bị cơ sở hạ tầng gắn liền với nó;

Tài sản cá nhân - tất cả mọi thứ mà bạn sở hữu mà không phải là bất động sản như tàu thuyền, sưu tầm, đồ nội thất gia dụng, đồ trang sức, phương tiện...;

Đầu tư - niên kim, trái phiếu, giá trị tiền mặt của chính sách bảo hiểm nhân thọ, quỹ tương hỗ, trợ cấp hưu trí, kế hoạch nghỉ hưu, cổ phiếu và các khoản đầu tư khác.

Tài sản thường được chia thành hai loại lớn: tài sản lưu động và các tài sản có tính thanh khoản. Tài sản là một trong những thứ có thể được chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng với ít hoặc không ảnh hưởng đến giá nhận. Ví dụ, cổ phiếu, thị trường tiền tệ và trái phiếu chính phủ là tài sản lưu động. Tài sản có tính thanh khoản, mặt khác, là những tài sản mà không thể được chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng mà không mất mát đáng kể về giá trị. Ví dụ về các tài sản có tính thanh khoản gồm: nhà ở, đồ cổ và đồ sưu tầm khác.

a.  K và H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì chúng đã có hành vi gian dối đánh lừa người giúp việc ?

Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khoản 1 điều 139 luật hình sự sửa đổi 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Xét về mặt khách quan, người phạm tội có hành vi lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Đây là hành vi đưa ra những thông tin gian dối, không đúng sự thật nhằm tạo lòng tin ở người quản lý tài sản. Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối là cơ sở, là tiền đề để việc chiếm đoạt tài sản xảy ra. Thủ đoạn gian dối có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau bằng lời nói, việc làm, bằng giấy tờ giả mạo…Có thể nói, trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối tạolòng tin ở người khác, làm cho người quản lý tài sản nhầm lẫn, tin vào thôngtin gian dối mà người phạm tội đưa ra mà giao tài sản cho họ. Thủ đoạn gian dối có ý nghĩa quan trọng và quyết định cho việc chiếm đoạt tài sản xảy ra.Trong tình huống này, K và H có hành vi gian dối ngay từ đầu. Đó là K và H đã giả vờ lấy cớ chúc tết gia đình ông N để có thể được bà giúp việc P cho vào nhà. Hành vi gian dối nêu trên nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nhưng hoàn toàn không quyết định đến việc chiếm đoạt xảy ra mà hành vigian dối nêu trên chỉ tạo thuận lợi cho việc chiếm đoạt tài sản. Việc chiếm đoạt được tài sản của gia đình ông N do K, H thực hiện không phải bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi gian dối đánh lừa người giúp việc của K và H giúp chúng được vào nhà tạo điều kiện thuận lợi cho việc đe dọa dùng vũ lực đối với bà P để có thể dễ dàng chiếm đoạt được tài sản. Thủ đoạn của K,H trực tiếp chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc.Hơn nữa, trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người quản lý tài sản do tin tưởng vào người phạm tội mà “tự nguyện” đưa tài sản cho chúng. Nhưng trong trường hợp này, K và H đã tự mình mở két sắt lấy đi tài sản gia đình ông N chứ không phải bà P giao cho một cách tự nguyện.
Vì vậy, ý kiến này là sai.

b.  K và H phạm tội trộm cắp tài sản vì chúng có hành vi lợi dụng lúc gia đình ông N đi vắng để lấy tài sản ?

Điều 138 Luật hình sự sửa đổi 2009 quy định về tội trộm cắp tài sản:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

Đ) Hành hung để tẩu thoát;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng."

Trường hợp của bạn thuộc điểm a khoản 4 Điều 138 luật hình sự sửa đổi 2009 " chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên" cụ thể là 600 triệu đồng đã bị chiếm đoạt. 

 Tuy nhiên, ý kiến này cho rằng người phạm tội chiếm đoạt tài sản khi chủ tài sản không có mặt nên hành vi chiếm đoạt này có tính lén lút do không cho chủ sở hữu tài sản biết có việc chiếm đoạt xảy ra. Theo em, ý kiến này là sai.Hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản có hai dấu hiệu phân biệt với hành vi chiếm đoạt của tội khác. Đó là dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sảnđang có chủ. Hành vi được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thứcmà hình thức đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra. Ta cần hiểu chủ tài sản bao gồm có chủ sở hữu tài sản và người quản lý tài sản. Chủ sở hữu tài sản là người có đầy đủ 3 quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật.Có đầy đủ 3 quyền này mới là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản và được pháp luật bảo vệ.Người quản lý tài sản là người đang nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản nhưng lại không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền định đoạttài sản. Trong tình huống đề bài, khi gia đình ông N ra ngoài thì bà P chính làngười quản lý tài sản. Do đó, hành vi của K, H không có tính lén lút, bởi việc lấy tài sản hoàn toàn diễn ra trước mắt bà P. Tuy hành vi chiếm đoạt tài sản của K và H xảy ra,gia đình ông N không hề biết nhưng một chủ tài sản là người quản lý tài sản lúc đó là bà P hoàn toàn biết rõ. Vì vậy, K và H không phạm tội trộm cắp tài sản. 
c. K và H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì chúng công khai lấy tài sản trước mắt người giúp việc?

Điều 137 luật hình sự sửa đổi 2009 quy định: "1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Hành hung để tẩu thoát;

B) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng."

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản. Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản màngười quản lý tài sản không thể bảo vệ được tài sản của mình do những trở ngại khách quan như ốm đau, lũ lụt, tai nạn… Do vậy, người phạm tội không cần và cũng không có ý định dùng bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay nhanh chóng chiếm đoạt tài sản…Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có ba dấu hiệu: 

Hành vi chiếm đoạt tài sản của H và K có tính công khai. Khi đó, bà P hoàn toàn biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của K và H đang xảy ra. Đảm bảo dấu hiệu thứ nhất của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Dấu hiệu thứ hai, người quản lý tài sản rơi vào tình trạng không thể quản lý, bảo vệ được tài sản. Trong trường hợp này, H,K đã đe dọa và định trói khiến bà P bị tê liệt về ý chí, không dám có hành động phản kháng. Nói cách khác, người quản lý tài sản là bà P ở trong tình trạng không có khả năng bảo vệ, ngăn cản việc chiếm đoạt. Nội dung này cũng thỏa mãn dấu hiệu của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Nhưng yếu tố thứ ba, lý do mà người có tài sản lâm vào tình trạng không thể quản lý, bảo vệ được tài sản trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là do nguyên nhân khách quan hay chủ quan của chính người bị hại chứ không phải do người phạm tội tạo ra tình trạng đó. Ở đây, chính H và K đã có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực khiến bà P không có điều kiện để ngăn cản hành vi chiếm đoạt của mình.

Do đó, không thể kết luận K, H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Như vậy hành vi này cấu thành tội cướp tài sản :

"Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

Đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

A) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

B) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

C) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

A) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

B) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

C) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Giả định K đủ 17 tuổi và H đủ 15 tuổi thì có vụ đồng phạm không và mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng trong trường hợp phạm tội nêu trên là bao nhiêu năm tù?

Điều 20 Luật hình sự sửa đổi năm 2009 quy định về tội đồng phạm: 

''1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm."

Điều 12 Luật hình sự sửa đổi 2009 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

"1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

Khoản 3 Điều 8 Luật hình sự sửa đổi năm 2009: "Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. do đó họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm. theo luật hình sự nước ta thì người từ đủ 14 tuổi trở nên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nghiêm trọng do cố ý (khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự).

Vì vậy, H đủ 15 tuổi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nghiêm trọng do cố ý

Có thể thấy chỉ riêng hành vi “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” của H và K đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Mức cao nhất mà H và bị tuyên theo khoản 1 điều 133 Bộ luật hình sự là 10 năm. Dựa trên cở sở là khoản 3 điều 8 Bộ luật hình sự: “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù”, thì hành vi của H và K thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự.