Chiều đó công an mời em xuống và nói nhưng điều bất lợi cho em. Em rất hoảng sợ và run, họ nói nếu có lỡ lấy thì họ sẽ sắp xếp mọi chuyện êm ả chỉ có họ biết và 2 vợ chồng biết thôi. Lúc đó em run và hoảng sợ vô cùng nên đã nhận là mình làm nhưng thực chất là em không lấy tài sản này. Lúc đó em chỉ nghĩ nhận cho mọi chuyện xong cho rồi cho im lặng thôi nhưng giờ em thấy hối hận vì mình đã nhận oan . Vậy cho em hỏi em nhận tội vậy rồi sau này có bất lợi gì cho em không và em có phạm tội trộm cắp không tài sản đó là của chung 2 vợ chồng ?  Em xin cảm ơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật  hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê

 Tư vấn tội trộm cắp tài sản?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến  gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn:

Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau : 

"Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc  dưới hai trie đồng hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặt đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b)  Có tính chất chuyên nghiệp;

c)  Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gâu hậu quả nghiêm trọng

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gâu hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng"

Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ và thuộc một trong các trường hợp sau: tài sản trộm cắp có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặt đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Như vậy, để có thể truy cứu tội danh này thì cần phải có hai dấu hiệu: dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có chủ.

Theo như nội dung mà bạn trình bày thì trường hợp của bạn cần xác định rõ số vàng đã mất là là tài sản chung vợ chồng, hay là tài sản riêng. Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung"

Như vậy, nếu như số vàng này là tài sản chung vợ chồng thì bạn cũng là người sở hữu  số vàng này. Do vậy, nếu bạn đã nhận bạn là người lấy số vàng này đương nhiên Công an sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự, vì đây là tài sản chung vợ chồng, và việc bạn nhận là người lấy số vàng cũng không phạm tội trộm cắp tài sản.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  hoặc qua tổng đà1900.1940. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê