Có 1 nhân viên của Homecredit.vn gọi điện hối thúc em đóng và em đã hẹn ngày 05/03/2016 khi chồng em đi Sài Gòn về em sẽ đóng, nhân viên của ngân hàng của đã đồng ý.

Nhưng sáng hôm nay, em nhận được 1 tin nhắn từ số điện thoại 0128504XXX với nội dung: "Văn phòng pháp lý yêu cầu Nguyễn Ngọc Thơm thanh toán số tiền trước 15h hôm nay. Nếu không đúng hẹn sẽ bồi thường hợp đồng, phạt tù 3 năm theo điều 139 Bộ Luật Hình sự về tội trốn tránh chiếm đoạt tài sản."

Hiện em đang mang thai nên không đi làm được chỉ có chồng em đi làm nhưng anh ấy chưa về kịp. Luật sư cho em hỏi em bị trễ hẹn vì chưa lo kịp tiền nhưng mà bên đó cho là em trốn tránh và chiếm đoạt tài sản, như vậy khi ra tòa em có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ạ? Em xin cám ơn! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

Trả lời: 

Chào chị, cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được tư vấn về trường hợp của chị như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự năm 1999

Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Hình sự 2009

Nội dung tư vấn

Đầu tiên, theo như thông tin mà chị cung cấp, nội dung tin nhắn gửi đến chị nói rằng: " "Văn phòng pháp lý yêu cầu Nguyễn Ngọc Thơm thanh toán số tiền trước 15h hôm nay. Nếu không đúng hẹn sẽ bồi thường hợp đồng, phạt tù 3 năm theo Điều 139 Bộ Luật Hình sự về tội trốn tránh chiếm đoạt tài sản." Hiện tại, Bộ Luật Hình sự của Việt Nam không có khái niệm về tội "trốn tránh chiếm đoạt tài sản". Theo Điều 139 BLHS chỉ có quy định về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". 

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Theo điểm a, khoản 2, điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 2009 quy định : "Sửa đổi cụm từ “năm trăm nghìn đồng” thành cụm từ “hai triệu đồng” tại khoản 1 điều 139".

Như vậy, về mặt khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Về mặt chủ quan, người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý, ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo.

Theo như thông tin mà chị cung cấp, việc chị sở hữu số tiền vay là thông qua hợp đồng vay trả góp, việc chị trả chậm tiền cũng không phải là cố ý. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./. 

Bộ phận tư vấn luật hình sự.