Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP;

- Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;

- Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015.

2. Luật sư tư vấn:

Do thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi chưa được đầy đủ và thiếu thông tin nên sẽ có nhiều trường hợp xảy ra

Trường hợp thứ nhất, anh trai bạn tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, hiện vật mà giá trị dưới 5.000.000 đồng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì căn cứ theo điểm a khoản 2 điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định

Điều 26. Hành vi đánh bạc trái phép

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

Với trường hợp trên thì mức hình phạt là tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng

Trường hợp 2, anh trai bạn tham gia đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức mà được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 trở lên hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính thì Căn cứ theo điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, theo dẫn chiếu trên thì việc đánh bạc trái pháp luật dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đã vi phạm pháp luật hình sự và chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình trước pháp luật. Khung hình phạt thấp nhất là phạt tiền và cao nhất là tới 7 năm tù với tội danh này, đồng thời bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Bỏ trốn được khi công an xuất hiện thì có vi phạm pháp luật hình sự không?

Thì căn cứ theo điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 85. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự

Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:

1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6. Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Khi cơ quan có thẩm quyền điều tra và tiến hành tiến hành truy tố, xét xử vụ án hình sự mà chứng minh được có hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm và những tình tiết khách của hành vi phạm tội xảy ra tại xới bạc cùng nhiều yếu tố khác quy định theo dẫn chiếu trên, trong khi anh trai bạn hoàn toàn đáp ứng những yếu tố đó thì việc có thể bỏ trốn được hay không thì vẫn không giúp anh ta thoát tội. Bởi căn cứ theo khoản 1 điều 111 Bộ luật này thì anh ta đang thực hiện tội phạm mà bị phát hiện thì bất kỳ ai cũng có quyền bắt và giải ngay tới cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê