Thời điểm trên, anh Đ, 29 tuổi, trú ở quận Hai Bà Trưng, do say rượu nên dừng xe máy nhắn tin với bạn gái. Đi xe máy ngang qua, trông thấy chiếc điện thoại Samsung đắt tiền trên tay anh Đ còn mới, K lập tức áp sát, giật chiếc điện thoại và đạp đổ xe máy của anh Đ, nhằm không để bị hại đuổi theo. Sau ít phút bất ngờ, anh Đ dựng xe máy đuổi theo tên cướp giật. Chạy được vài trăm mét, anh Đức đuổi kịp và đạp đổ xe máy của K. Lúc này, có một số người dân đi đến. K buộc phải để lại chiếc xe máy bỏ chạy.

Nhận được tin báo của bị hại, CAP Đồng Tâm phối hợp cùng đội CSHS CAQ Hai Bà Trưng khẩn trương tổ chức truy xét. Từ chiếc xe máy tên cướp giật vứt lại, cơ quan công an đã rà được chủ sở hữu xe, là 1 cô gái trẻ tạm trú ở Hà Nội. Qua đấu tranh, cô gái tường trình cho bạn trai là VĐK mượn xe. Trưa 7-2, CAP Đồng Tâm đã xác định, bắt được tên cướp giật cơ hội. Tôi muốn hỏi: Người cho mượn xe có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Và Mức phạt với K như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư.

Người gửi: Xuân Luân

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn xử lý tội cướp giật tài sản?

Tư vấn xử lý tội cướp giật tài sản - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:  

Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11

2. Nội dung tư vấn:

- Theo dữ kiện bạn đưa ra thì K (bạn trai của bạn) đã có đầy đủ các hành vi cấu thành tội cướp giật tài sản quy định tại    Điều 136 BLHS mặc dù K chưa đạt được mục đích là chiếm đoạt được số tài sản này vì bị anh Đ bắt lại. Cụ thể về tội cướp giật tài sản như sau:

“Điều 136. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.”

Như vậy sẽ căn cứ vào kết quả điều tra của cơ quan điều tra để xác định mức khung hình phạt cho K theo    Điều 136 BLHS như trên. Tuy nhiên nếu K không gây ra hậu quả nghiêm trọng và không có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm hay các trường hợp quy định  tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 như bạn đã  trình bày    thì có thể bị truy cứu theo Khoản 1, Điều 136 BLHS. Ngoài ra, bạn có thể xem xét các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS để áp dụng vào trường hợp của bạn trai bạn vì nếu có càng nhiều tình tiêt giảm nhẹ mình có thể được áp dụng với mức án thấp nhất của khung hình phạt.

- Đối với bạn khi cho K mượn xe máy thì hành vi này có phải chịu trách nhiệm hay không thì căn cứ vào ý chí của bạn tại thời điểm cho mượn xe. Cụ thể có thể chia làm 2 trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Bạn cho K mượn xe và biết K sẽ dùng xe này để đi cướp giật tài sản thì bạn có thể trở thành đồng phạm của K dưới hình thức là người giúp sức theo quy định tại Điều 20 BLHS.

“Điều 20. Đồng phạm 

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.”

Trường hợp 2: Bạn cho K mượn nhưng không biết K sử dụng xe này vào mục đích đi cướp giật tài sản của người khác thì bạn chỉ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự về tội cướp giật tài sản của anh K. Khi đó bạn có các quyền và nghĩa vụ như Điều 54 BLTTHS quy định

"Điều 54. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:

a) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

b) Tham gia phiên toà; phát biểu ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

c) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình;

d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và trình bày trung thực những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.”

Vậy để biết bạn có phải chịu trách nhiệm về hành vi cho mượn xe của mình hay không thì bạn phải nêu rõ hành vi của mình khi được cơ quan công an điều tra triệu tập. Nếu trên thực tế bạn thuộc và trường hợp thứ 2 như trên thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình .

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê