Trả lời:

Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015)

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015

2. Nội dung tư vấn:

Dear quý luật sư, 2 vợ chồng Trang và những người thân trong gia đình bị chính người em ruột của Trang nhiều lần dối lừa mượn tiền để kinh doanh nhưng thực tế chỉ để ăn xài. Số tiền lên đến 400 triệu. Kính mong quý luật sư giúp đỡ với số tiền nợ mà em Trang đã gây ra nhưng không hề muốn đi làm để trả nợ, chây ì không thiện chí xem như không hề có chuyện gì. Luật sư có cách nào để pháp luật can thiệp răn đe? Chứ không thể nào để em Trang tự do sống nhỡn nhơ để mặc cho người thân của mình gánh gồng nợ như thế. Mong tin luật sư. Xin chân thành cảm ơn rất nhiều!!! Minh Trang (mrs) Handphone Đã gửi từ iPhone của tôi
Xin luật sư cho tôi hỏi là: bạn tôi nhờ tôi đi cắm xe của tôi để cho a ấy mượn tiền. Và tôi đã đi cắm xe của mình cho bạn mượn với số tiền là 26 triệu đồng. Nay bạn tôi không trả nên tôi muốn làm đơn tố cáo bạn tôi,vậy tôi nên nộp đơn tố cáo ở đâu (nơi bạn tôi thường trú hay nơi xảy ra sự việc ạk)
Cách đây khoảng hơn một năm tôi có nhờ một người quen xin việc làm cho em gái. Người này báo giá là: 100.000.000đ. Tôi đã giao số tiền trên cho người này kèm theo là giấy nhận tiền do con gái người này viết với nội dung có ngày, tháng, năm, họ tên, số CMND, địa chỉ nhà và chữ ký của người này. Trong suốt hơn một năm nay không xin được việc và người này cũng không trả lại số tền trên. Chúng tôi đã đàm phán với gia đình người này nhưng không nhận được dấu hiệu tích cực. Nay tôi nhờ các luật sư tư vấn giúp tôi cần làm như thế nào để có thể lấy lại số tiền trên. Tôi xin chân thành cám ơn.
Xin luật sư cho tôi hỏi là: bạn tôi nhờ tôi đi cắm xe của tôi để cho a ấy mượn tiền. Và tôi đã đi cắm xe của mình cho bạn mượn với số tiền là 26 triệu đồng. Nay bạn tôi không trả nên tôi muốn làm đơn tố cáo bạn tôi,vậy tôi nên nộp đơn tố cáo ở đâu (nơi bạn tôi thường trú hay nơi xảy ra sự việc ạk)

Trong các trường hợp trên, các giao dịch đều diễn ra giữa những người có quen biết, thân quen, vì thế khi tiến hành giao dịch rất tin tưởng lẫn nhau, nhưng một bên còn lại đã lợi dụng sự quen biết đó để chây ỳ, trốn thực hiện nghĩa vụ. Theo quy định của pháp luật, sẽ có 02 con đường để có thể đòi lại được số tiền này, cụ thể như sau:

TH1: Theo như quy định tại Điều 121 BLDS 2005 thì: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự." Điều 401 cũng quy định như sau: "1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định." Như vậy, bên còn lại đã vi phạm pháp luật dân sự vì không thực hiên nghĩa vụ của mình theo như hợp đồng, cụ thể :

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Điều 522. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

Bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác;

Theo phương án này, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Khi cơ quan Tòa án tiến hành điều tra, bạn phải đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh thông tin mình cung cấp là đúng.

TH2. Theo quy định tại BLHS các đối tượng trên có thể bị truy tố về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác tại Khoản 1 Điều 140 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 1 BLHS 2009 quy định: "Sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành cụm từ “bốn triệu đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” tại điểm d khoản 2 Điều 140;"

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Số tiền cho vay trong các trường hợp trên đều lớn hơn 2tr đồng, vì thế, đủ để cấu thành nên tội.

Theo quy định tại điều 101 BLTTHS 2003: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.
 
Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Sau khi xử lí về hình sự, tòa án sẽ giải quyết yêu cầu về mặt dân sự cho bạn. 

Cho em hỏi là làm sao để em lấy lại số tiền đã cho mượn khi không có giấy tờ chứng minh. Chuyện là em có cho bà T mượn 1 số tiền,nhưng sao đó có cãi nhau và bà T nói là không có mượn, nếu có thì kêu nhân chứng thấy cho bà T mượn. Nhưng lúc đó lại không có ai thấy,nhưng hàng xóm xung quanh thì biết có mượn nhưng không ai thấy tận mắt đưa Vậy em phải làm gì để lấy lại số tiền đã cho bà T mượn

Theo như quy định tại Điều 121 BLDS 2005 thì: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự." Điều 401 cũng quy định như sau: "1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định." Hiện nay, pháp luật không quy định việc cho vay tiền phải lập thành văn bản, vì vậy giao dịch trên được pháp luật thừa nhận. 

Để đòi lại số tiền này, bạn có thể gửi đơn khởi kiện đòi lại tiền đến Tòa án nhân dân huyện quận nơi bị đơn cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết. Và để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch vay tiền trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc vay tiền, nhận tiền giữa hai bên theo quy định tại điều 190 BLTTDS 2015.

Theo quy định tại Điều 94 BLTTDS về xác định chứng cứ thì bao gồm:

"Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

2. Vật chứng.

3. Lời khai của đương sự.

4. Lời khai của người làm chứng.

5. Kết luận giám định.

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.

9. Văn bản công chứng, chứng thực.

10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định."

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không thiết lập hợp đồng cho vay, cũng không có giấy biên nhận hay giấy ghi nợ , cũng không có bất kỳ bản ghi âm nào để chứng minh thì rất khỏ để Tòa án có thể xác định lời bạn nói là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi không được chi tiết, để có thể thằng kiện bạn nên phối hợp với cơ quan điều tra để có thể chứng minh được bà T đã gian dối trong việc không thừa nhận vay số tiền đó của bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.