1. Cho vay với lãi suất 2,5%/tháng có bị coi là cho vay nặng lãi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Cho vay với lãi suất 2,5%/ tháng có coi là cho vay nặng lãi không ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.H.C

Cho vay với lãi suất 2,5%/tháng có bị coi là cho vay nặng lãi ?

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 (văn bản thay thế: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Đồng thời, Điều 163 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, pháp luật chỉ thừa nhận đối với phần lãi suất không vượt quá 150%/ năm theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước. Bên cạnh đó, để xem xét hành vi cho vay tiền có lãi có phải là hành vi cho vay nặng lãi hay không thì cần xem xét lãi suất cho vay là bao nhiêu. Nếu lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên, đồng thời có tính chất chuyên bóc lột thì xác định hành vi đó cấu thành Tội cho vay nặng lãi.

Hiện nay, lãi suất của Ngân hàng nhà nước là 9%/năm. Vì vậy lãi suất cho vay không được vượt quá 13,5%/năm (9,5 % . 150%), tức là không được vượt quá 1,125%/ tháng.

Như vậy, hành vi cho vay với lãi suất 2,5%/tháng là hành vi cho vay có mức lãi suất gấp đôi mức lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép. Vì không phải gấp 10 lần mức lãi suất cho phép nên hành vi trên không cấu thành Tội cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, mức lãi suất này không phải là mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật, nên bạn cần điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

2. Tư vấn án phí và mức hình phạt khi cho vay nặng lãi ?

Kính gửi luật sư! Tôi đã cho bạn vay tiền, có ghi giấy biên nợ. Số tiền 10 triệu, lãi suất 5% một tháng. Bạn tôi đã trả 4 triệu tiền gốc ghi vào giấy biên nhận. Không ghi thời điểm phải trả. Hiện tại số tiền còn lại chưa trả đã nửa năm mà bạn tôi không có thái độ muốn trả. Nếu tôi đưa ra tòa án dân sự, liệu bạn tôi vi phạm điều khoản nào và chịu mức hình phạt nào ?
Tôi cám ơn tư vấn của luật sư!
Người gửi: H

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn công ty xin được trả lời như sau:

Hiện nay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về mức lãi suất cho vay như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vây nếu bạn cho vay với mức lãi suất 5%/ tháng là vượt quá lãi suất cho vay quy định bởi theo quy định thì bạn chỉ được cho vay với lãi suất không được vượt quá 1.125%/ tháng.

Vì hợp đồng của bạn không thỏa thuận về thời hạn vay nên theo quy định của Điều 477 khi thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi suất thì thực hiện như sau:

Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Như vậy bạn có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên vay một thời gian hợp lý. Nếu như khi hết thời hạn mà bên vay vẫn không trả hì bạn có thể khởi kiện dân sự yêu cầu thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng. Nếu bạn thực hiện thủ tục này thì người vay chỉ phải thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng chứu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu như bên vay cố tình trốn tránh hoặc bỏ trốn để nhằm chiếm đoạt tài sản thì bạn có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an về hành vi " Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009 như sau:

Điều 140*. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

C) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Tái phạm nguy hiểm;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

3. Cho vay 8000/1 triệu/ 1 ngày có phải vay nặng lãi không?

Thưa Luật sư, tôi vay tiền với lãi 8000/triệu/ngày vậy người cho tôi vay có phạm tội không? Tôi có phải trả số tiền theo lãi thỏa thuận không?

Xin cảm ơn Luật sư!

Người gửi: tranthehiep

Cho vay 8000/1 triệu/ 1 ngày có phải vay nặng lãi không?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi:1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 (Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009) quy định về tội cho vay lãi nặng như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

- Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về lãi suất như sau: "Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng". Như vậy, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

- Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Hiện nay lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố là 9%/năm tức 0.75%/ tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 150% của lãi suất đó tức là không quá 1.125%/tháng. Như vậy, người cho bạn vay với mức lãi suất là 8.000đ/triệu/ngày tức 24%/tháng (cao hơn 21 lần so với mức lãi suất mà pháp luật quy định) đã có dấu hiệu của tội vay lãi nặng theo quy định của Điều 163 BLHS. Trong trường hợp này, vì có dấu hiệu của tội phạm nên bạn có thể gửi đơn tố giác hành vi của người này đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc đến các cơ quan khác, tổ chức.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

4. Vay nặng lãi không trả được thì có phạm tội không ?

Thưa luật sư, Em lỡ dại đi vay nặng lãi với 1 cái bằng và giấy viết tay hứa 1 tháng trả cách đây 3 năm rồi, số tiền là 80 triệu đồng, họ tính 3ng/1tr/1ngày. Em đóng tiền lãi được 2 năm rồi. Sau đó, em làm ăn khó khăn không trả nổi tiền lãi nữa thì chậm tiền lãi là 40 triệu đồng, chủ tiệm hỏi nợ và bắt viết giấy mới với tổng nợ là 120 triệu đồng. Đến giờ em vẫn không làm gì ra để có tiền để trả nữa. Vậy họ kiện em thì em có tội gì không? Giờ em phải trả tiền gốc là được hay phải trả cả tiền lãi nữa?.
Em xin cảm ơn !

Vay nặng lãi không trả được thì có phạm tội không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự, hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về Hợp đồng vay tài sản như sau:

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Ngoài ra, tại Điều 474 Bộ luật dân sự quy định Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
…”
Theo quy định trên, bên cho vay sẽ có nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khi bên vay không có khả năng thanh toán nợ thì bên vay có quyền gửi đơn khởi kiện về việc đòi lại tài sản đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để được giải quyết.

Tuy nhiên, phần tiền lãi thì theo quy định tại Điều 476 BLDS về lãi suất cho vay trong hợp đồng dân sự, nhận thấy mức lãi suất mà bên cho bạn vay cao hơn nhiều so với mức lãi suất theo quy định của pháp luật (3 nghìn đồng/triệu/ngày = 0.3%/ngày, tương đương 9%/tháng; trong khi quy định của pháp luật mức lãi suất tối đa là 1.3% × 150%, tương đương 2%/tháng). Trường hợp này, hợp đồng vay của bạn sẽ bị vô hiệu một phần – phần lãi suất cho vay do vi phạm quy định pháp luật. Theo đó, mức lãi suất có thể sẽ được tính theo mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật (2%/tháng).

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

5. Tư vấn thế nào là cho vay nặng lãi và thủ tục khởi kiện ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Ba năm trước do cần vốn kinh doanh gia đình tôi có hỏi mượn một số tiền là 80.000.000 với mức lãi 8.000.000/ tháng. Trong lúc làm tờ giấy vay mượn bên cho vay không cho chúng tôi ghi cụ thể số tiền lãi đóng hàng tháng là bao nhiêu, khoảng thời gian đó gia đình tôi vẫn đóng lãi hàng tháng đầy đủ. Qua tìm hiểu tôi có được biết về việc cho vay nặng lãi được quy định rõ ràng trong bộ luật dân sự.

Vì vậy tôi muốn nhờ luật sư tư vấn về vấn đề cho vay nặng lãi và xét xem trường hợp của gia đình tôi liệu có thể khởi kiện ra toà được không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: D.P

Tư vấn thế nào là cho vay nặng lãi và thủ tục khởi kiện ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Về vấn đề mà bạn thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng

Trong trường hợp mà bạn hỏi, bạn có vay số tiền là 80.000.000 và mức lãi suất là 8.000.000 đồng/tháng. Mức lãi suất hàng tháng trong trường hợp của bạn này được tính bằng:

Mức lãi suất = 8.000.000 : 80.000.000 = 10%/tháng,

Về tội cho vay lãi nặng, Bộ Luật Hình sự 1999 quy định tại Điều 163 như sau:

“1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Lãi suất vay của bạn hiện gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định là: gấp 10%:1.125%=8.89 lần

Như vậy, chỉ khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 10 lần trở lên thì mới cầu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự. Hiện lãi suất bạn đang vay chỉ gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định 8,89 lần, cho nên phía cho vay không cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bạn không trả được nợ và phía bên cho vay khởi kiện ra tòa án thì pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi của bên cho vay trong phạm vi lãi suất mà pháp luật cho phép. Tức là chỉ đến mức lãi suất 1.125%/tháng (tương đương 900.000/tháng). Phần vượt quá lãi suất sẽ không được pháp luật bảo vệ.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162

Trân trọng./.

6. Lãi suất 6%/tháng có phải cho vay nặng lãi ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Em trai tôi vay của ông trưởng thôn với số tiền là 30 triệu với lãi xuất là 6% /tháng. Vậy có phải là cho vay nặng lãi không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: T.D

Lãi suất 6%/tháng có phải cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về lãi suất gọi số:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Đồng thời, Điều 163 BLHS 1999, sửa đổi 2009 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, pháp luật chỉ thừa nhận đối với phần lãi suất không vượt quá 150%/ năm theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước. Bên cạnh đó, để xem xét hành vi cho vay tiền có lãi có phải là hành vi cho vay nặng lãi hay không thì cần xem xét lãi suất cho vay là bao nhiêu. Nếu lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên, đồng thời có tính chất chuyên bóc lột thì xác định hành vi đó cấu thành Tội cho vay nặng lãi.

Hiện nay, lãi suất của Ngân hàng nhà nước là 9%/năm. Vì vậy lãi suất cho vay không được vượt quá 13,5%/năm (9,5 % . 150%), tức là không được vượt quá 1,125%/ tháng.

Như vậy, hành vi cho vay với lãi suất 6%/tháng là hành vi cho vay có mức lãi suất gấp 5,33 lần mức lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép. Vì không phải gấp 10 lần mức lãi suất cho phép nên hành vi trên không cấu thành Tội cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, mức lãi suất này không phải là mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật, nên bạn và người cho vay tiền cần điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê