Tôi đã đóng được 9 tháng, đến tháng thứ 10 tức ngày 25/6/2015 (tức Mồng 10 tháng 5 âm lịch) là ngày mở hụi nhưng chủ hụi không có ở nhà (đi nước ngoài thăm con cháu) nên không mở hụi. Hơn 2 tháng sau chủ hụi trở về và không tiếp tục mở hụi và tuyên bố là không có khả năng chi trả. Tôi đã thương lượng nhiều lần nhưng không thành công, tổng cộng số tiền tôi đã đóng cho chủ hụi là 65.000.000 đ (sáu mươi lăm triệu đồng) nhưng chủ hụi đề nghị hàng tháng sẽ trả cho tôi 2.000.000 đ (hai triệu đồng) nhưng không đồng ý viết giấy cam kết. Sau khi thương lượng không thành thì đến nay đã 2 tuần rồi vẫn không thấy chủ hụi đề cập đến vấn đề tiền bạc của tôi. Ngoài tôi ra thì ở khu phố cũng có rất nhiều người vướng vào hụi như tôi, ngoài ra còn một số người có cho chủ hụi vay tiền, người thì vài trăm triệu, cá biệt có người cho vay đến hai, ba tỉ .... nhưng chủ hụi cũng hứa hẹn trả nhỏ từ từ và không đồng ý viết giấy cam kết. Nay tôi xin nhờ Luật sư tư vấn dùm tôi cách khởi kiện chủ hụi nêu trên, và khởi kiện với tội danh gì, cơ hội thắng kiện là bao nhiêu? Rất mong sớm nhận được hồi đáp của Luật Minh Khuê

Tôi xin trân trọng cám ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Chơi hụi nhưng không có khả năng chi trả phạm tội chị

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Về họ, hụi, biêu, phường  

2. Nội dung tư vấn

Về bản chất, chơi hụi là việc thành viên của dây hụi thống nhất góp một loại tài sản có giá trị giao dịch như: tiền, vàng, gạo... cũng thỏa thuận số lượng tài sản góp, số kỳ góp, thời gian góp, kỳ mở hụi... Có một người trong dây hụi sẽ đứng lên làm chủ hụi và có trách nhiệm đi thu tiền (tài sản) của con hụi. Như vậy, giữa chủ hụi và các con hụi đã hình thành sự tín nhiệm về việc lưu trữ tài sản có giá trị. Việc cầm tiền hụi nhưng không trả là lạm dụnh tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được căn cứ tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, trong trường hợp bản khởi kiện thì chủ hụi sẽ bị tội danh lợi dụng tín nhiệm lừa đảo chiếm đoajt tài sản căn cứ theo luật này

Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật thường khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải căn cứ theo Điều 31 nghị định số 144/2010/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Về họ, hụi, biểu, phường như sau:

"Điều 31. Giải quyết tranh chấp

Trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hoà giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự."

Khi tranh chấp không thể hòa giải được, bạn có thể khởi kiện tại TAND có thẩm quyền. Cơ hội thắng kiện phụ thuộc vào những chứng cứ và chứng minh bạn thu thập được cũng như khả năng biện hộ của luật sư trong trường hợp bạn có thuê luật sư.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do bạn cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê