Trong thời gian này em trai tôi có bỏ đi khỏi địa phương đến 1 địa phương khác cư trú.Sau một thời gian sau thì chủ nợ báo cáo công an và họ ra lệnh truy nã rồi bắt em trai tôi tạm giam.Và sắp tới đưa ra xét sử vơi tội danh: Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản.  Tôi xin hỏi trong trường hợp này chủ nợ có thể xin hủy xét xử vụ án này không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Thanh Lê

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sựcủa công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn pháp luật hình sự?

Tư vấn pháp luật hình sự - Ảnh minh họa

Trả lời:

Cơ sở pháp luật:

- Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009;

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Nội dung phân tích:

Để biết được những điều bạn đang thắc mắc, bạn cần xem xét những điều dưới đây:

Căn cứ bộ luật tố tụng hình sự 2003:

"Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều    104,   105  , 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2.Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức".

Theo như bạn cung cấp dữ liệu thì em bạn sắp bị xét xử về tội  danh “  Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009).

“ Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm :

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”.

Do vậy, tội này không thuộc vào những tội mà cơ quan nhà nước chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại (Điều 105 BLTTHS 2003). Theo đó, kể cả khi người chủ nợ kia không yêu cầu truy tố thì pháp luật hình sự cũng vẫn sẽ truy tố em trai bạn về tội này. Đồng thời, người bị hại cũng sẽ không có quyền được bãi nại đối với vụ án này.

Trân trọng cám ơn!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ