Trong quá trình làm việc, người bạn này cùng một số bạn trong công ty tổ chức phát tán tin nhắn rác và bị cơ quan điều tra công an bắt. Sau khoảng 6 tháng giam giữ, cơ quan điều tra số tiền "chiếm đoạt" là khoảng hơn 1 tỷ đồng và đề nghị truy tố theo điều 226b, khoản 4, bộ luật hình sự.
Ban tư vấn vui lòng cho tôi hỏi (kèm theo các thông tin thêm):
1. Số tiền hơn 1 tỷ nói trên là số tiền mà 3 nhà mạng thu về, doanh nghiệp của bạn tôi được hưởng 450tr. Vậy số tiền cơ quan điều tra thông báo là chiếm đoạt là 1 tỷ đối với doanh nghiệp này là chính xác, hay chỉ là 450tr đồng?
2. Toàn bộ số tiền 1 tỷ nói trên chưa được chuyển về doanh nghiệp mà hoàn toàn do 3 nhà mạng nắm giữ. Khi tôi đọc về "Phân tích và Bình luận khoa học về chiếm đoạt tài sản" tại link này https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-hinh-su/toi-lua-dao-chiem-doat-tai-san.aspx của Luật Minh Khuê, tôi có thấy các câu
"- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. " và
" Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận." và
"- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự"
Như vậy, có thể thấy bên Doanh nghiệp bạn tôi chưa hề nhận được, chưa "chiếm giữ hoặc sử dụng" thì như vậy kết luận là CHIẾM ĐOẠT có chính xác không?
Rất mong quý anh chị giúp đỡ phúc đáp!
Xin chân thành cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Chưa chiếm đoạt được tài sản có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 226b Bộ luật hình sự ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

2. Luật sư tư vấn:

 Quy định tại Điều 226 bộ luật hình sự về hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng và máy tính được quy định như sau:

"Điều 226b. Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính 

1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
b) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

c) Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;                                                            

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5.  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Hành vi này được hiểu như sau:

- Chủ thể: chủ thể thường có năng lực hành vi hình sự và đat độ tuổi theo quy định của pháp luât hình sự.

- Khách thể:Tội phạm xâm phạm hoạt động bình thường trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.

- Mặt khách quan: Mục đích của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản, sử dụng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số như là công cụ phạm tội. Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở một trong những dạng sau:

+ Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Trong đó, làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).

+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là việc cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác mà không được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản không phải của mình để chiếm đoạt tài sản.
+ Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi lừa đảo ở đây thể hiện ở việc sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó.

+Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi khác ở đây có thể là gửi tin nhắn lừa trúng thưởng nhưng thực tế không có giải thưởng để chiếm đoạt phí dịch vụ tin nhắn; quảng cáo bán hàng trên mạng Internet, mạng viễn thông nhưng không giao

- Măt chủ quan: Lỗi cố ý.

Như vậy, Những thắc mắc của bạn được giải đáp như sau:

Thứ nhất, về số tiền chiếm đoạt:

Công ty bạn trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo bằng cách sử dụng tin nhắn rác nhằm thu lợi. 3 nhà mạng trong trường hợp này không phải là chủ thể thực hiện tội phạm này. Mạng viễn thông được sử dụng là công cụ thực hiện tội phạm này. Do vậy, Số tiền làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự là số tiền thu được từ hoạt động này chưa tính đến việc phân chia lợi nhuận ( 1 tỷ).

Thứ hai, về khái niệm chiếm đoạt:

Khái niệm chiếm đoạt trong bài viết bạn tham khảo là hoàn toàn chính xác. Công ty bạn chưa chiếm đoạt được số tài sản này nhưng mặt khách quan  trong cấu thành tội phạm quy định tại Điều 226b không yêu cầu người phạm tội phải chiếm đoạt được tài sản này mà chỉ yêu cầu Mục đích của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, việc đã chiếm đoạt được tài sản này trên thực tế hay chưa không phải là cấu thành bắt buộc của tội phạm này. Do đó, người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.

Tham khảo bài viết liên quan:

Bị lừa mất tiền qua game zing?

Kiện tội lừa đảo tài sản nhưng không biết bị đơn ở đâu ?

Nhà mạng không thể phủi trách nhiệm

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật hình sự