1. Có đơn bãi nại có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Thưa luật sư, luật sư cho em hỏi đơn gửi sang bên viện kiểm soát rồi về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì có làm được đơn giải hoà rồi rút hồ sơ được không ?
Cảm ơn.
- Bùi Văn Hữu

Có đơn bãi nại có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi ngay số: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Để tìm hiểu vấn đề một cách có hệ thống, trước tiên chúng ta cần hiểu rõ bản chất của khái niệm đơn bãi nại. Đơn bãi nại không phải là một thuật ngữ pháp lý, đây là khái niệm để chỉ loại đơn của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người bị hại có nhược điểm về tâm thần hoăc thể chất hoặc người bị hại đã chết, có nội dung rút lại yêu cầu khởi kiện vụ án hình sự, nghĩa là không còn tiếp tục thưa kiện nữa. Vậy nên, có thể hiểu làm đơn bãi nại là quyền của người bị hại hay người đại diện của họ, việc rút lại yêu cầu khởi kiện này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: nếu vụ án được điều tra, làm rõ thì có thể ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm hoặc các lợi ích kinh tế của người bị hại hoặc hai bên tự dàn xếp, giải quyết được hậu quả…Quy định về vấn đề này đã xuất hiện từ rất sớm, trong các Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và nay là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thể hiện sự quan tâm và ,tôn trọng quyền tự chủ của người bị hại trong một số trường hợp.

Đơn bãi nại không được quy định trực tiếp trong nội dung của các Bộ luật tố tụng hình sự qua các thời kỳ mà được ngầm hiểu là hành vi người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự làm đơn rút yêu cầu khởi tố. Theo đó, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về vấn đề này tại điều 155 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Theo đó, việc rút yêu cầu khởi một cách hoàn toàn tự nguyện, không có dấu hiệu của ép buộc hay cưỡng bức sẽ dẫn đến việc đình chỉ vụ án ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng của một vụ án hình sự, nghĩa là bên gây thiệt hại ( người đang bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc những người có liên quan khác trong vụ án) sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải hiểu rằng, đơn bãi nại chỉ có thể đình chỉ những vụ án chỉ có thể được khởi tố dựa trên yêu cầu của người bị hại mà thôi. Cụ thể, danh sách những tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của họ bao gồm:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Bộ luật hình sự 2015)

Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều 139. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Điều 141.Tội hiếp dâm

Điều 143. Tội cưỡng dâm

Điều 155. Tội làm nhục người khác

Điều 156. Tội vu khống

Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Cần lưu ý, nếu hành vi phạm tội rơi vào khoản 1 các điều liệt kê ở trên thì mới chỉ được khởi tố theo yêu cầu phía người bị hại, còn nếu hành vi thuộc vào các điều khoản khác (đều có tính chất phạm tội nguy hiểm hơn) thì vụ án vẫn sẽ được khởi tố mà không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của người bị hại.

Như vậy, có thể đi đến kết luận rằng, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì đơn bãi nại tự nguyện, hợp pháp của người yêu cầu khởi kiện chỉ có hiệu lực làm đình chỉ vụ án trong những vụ án hình sự về các tội được nêu ở trên. Điều đó đồng nghĩa với việc không phải trong mọi trường hợp có đơn bãi nại thì bên gây thiệt hại đều không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Quy định như vậy là hợp lý sẽ đảm bảo được tính nghiêm khắc của pháp luật, tránh bỏ lọt những tội phạm nguy hiểm và tình trạng dân sự hóa các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất

2. Tư vấn về việc hủy đơn bãi nại ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Lúc trước gia đình tôi có viết một lá đơn bãi nại gia đình bên B .Thì bây giờ gia đình chúng tôi có thể hủy đơn bãi nại đó được không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: B.K.T

Tư vấn về việc hủy đơn bãi nại ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cũng cần biết thêm, trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định một số tội phạm được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Theo đó, nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án được đình chỉ. Cụ thể là những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các điều như Điều 104 cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 105 cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 106 cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 108 tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 109 cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 111 hiếp dâm; Điều 113 cưỡng dâm; Điều 121 làm nhục người khác; Điều 122 vu khống; Điều 171 xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Người phạm các tội như đã nêu trên, được bên bị hại rút yêu cầu khởi kiện (còn gọi là bãi nại) thì đối tượng phạm tội không bị xử lý hình sự (trừ trường hợp cơ quan chức năng xác định được người làm đơn bãi nại do bị ép buộc, cưỡng bức thì đối tượng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự).

Người phạm tội không thuộc các trường hợp nêu trên thì đơn bãi nại của người bị hại không có giá trị để đối tượng phạm tội không bị xử lý hình sự.

Do đó, bạn cần xác định trong trường hợp của bạn thì đối tượng phạm tội phạm tội gì, Nếu trường hợp phạm tội không thuộc các trường hợp được nêu ở trên thì đơn bãi nại của người bị hại không có tác dụng để người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu thuộc trường hợp phạm tội các tội nêu trên thì bạn có thể làm đơn "Hủy đơn bãi nại" gửi cơ quan điều tra để hủy đơn bãi nại mà bạn đã gửi.

Trân trọng./.

3. Tư vấn về việc có bị xử lý hình sự sau khi đã có đơn bãi nại ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em trai của em cùng 6-7 người đánh 1 người, thương tật là 26%, nhưng 5 tháng trước công an huyện đã bắt tam giam 1 người, và người đó chỉ khai em trai của em và 1 người khác nữa thôi. Sau đó công an đã mời em trai của em và người kia lên lấy lời khai, nhưng công an chỉ hỏi đánh như thế nào và dùng cái gì để đánh thôi, chứ không hỏi bao nhiêu người đánh.

Công an đề nghị bồi thường cho người bị hại số tiền chữa trị là 45 triệu, nhưng chưa bồi thường thì công an đã bắt tạm giam thêm người kia nữa. Bây giờ đã bồi thường đủ cho người bị hại rồi và họ đã làm đơn bãi nại.

Vậy cho em hỏi phần em trai của em có bị bắt tạm giam hay ngồi tù không ạ? Em trai của em mới sinh ngày 23/03/1998 và bị người khác rủ rê rồi chở đi chứ thật sự không biết gì.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.T.A.T

Tư vấn về việc có bị xử lý hình sự sau khi đã có đơn bãi nại ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê! Chúng tôi xin trả lời câu hỏi như sau:

Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

" Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Như vậy, em bạn và 6 - 7 người nữa đánh 1 người, thương tật là 26%. Do đó, em bạn phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định tại Khoản 2 Điều 104 BLHS (tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104). Đây là loại tội phạm nghiêm trọng, khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù.

Về việc gia đình người bị hại làm đơn bãi nại:

Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

" Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Vì em bạn phạm tội quy định tại Khoản 2 Điều 104 chứ không phải Khoản 1 Điều 104 nên cho dù gia đình nạn nhân làm đơn bãi nại thì em bạn vẫn bị khởi tố theo quy định của pháp luật hình sự. Do đó, em bạn sẽ bị tạm giam để phục vụ điều tra vụ án theo quy định tại Điều 120 BLTTHS:

" Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam."

Việc gia hạn tạm giam được quy định nh­ư sau:" ...

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;"

Như vậy, Thời hạn tạm giam và gia hạn tối đa là 6 tháng.

Về hình phạt tù:

Như bạn trình bày, em bạn sinh ngày 23/08/1998, tính đến thời điểm hiện tại, em bạn chưa đủ 18 tuổi. Đồng thời em bạn phạm tội do bị người khác rủ rê. Do đó, em bạn được hưởng mức hình phạt đối với người chưa thành niên như sau:

" Điều 69. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này."

Khoản 1 Điều 74 quy định:

" Điều 74. Tù có thời hạn

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;"

Như vậy, em bạn có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục (Khoản 2 Điều 69), hoặc áp dụng các biện pháp tư pháp mà không phải chấp hành hình phạt nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt (Khoản 4 Điều 69 BLHS). Nếu bị phạt tù thì em bạn sẽ chịu mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định, tức là 3/4 . 7 năm tù = 5, 25 năm = 5 năm 3 tháng tù.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê! Trân trọng./.

4. Có được làm đơn bãi nại cho bị cáo không ?

Thưa luật sư, Gia đình em bị người ta tống tiền và uy hiếp đến tính mạng người nhà em. Sau đó em đã trình báo với công an. Sau khi hợp tác với bên Công an đã bắt được tên tống tiền cùng đồng bọn.

Nhưng khi quá trình điều tra và biết được người đồng nghiệp của em đã ra tay hãm hại con em và gia đình em. Sau khi trao đổi với bên bị cáo, gia đình em muốn làm đơn bãi nại cho bị cáo như vậy có được không ạ. Nhưng trong đơn tố cáo em lại không ghi rõ họ tên người đã hại gia đình em. Vậy em có làm bãi nại được không ạ?

Em xin trân thành cảm ơn!

Có được làm đơn bãi nại cho bị cáo không ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Với nhứng thông tin mà bạn cung cấp cũng như mong muốn của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

**Thứ nhất: Về hành vi tống tiền.

Theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 về tội cưỡng đoạt tài sản thì:1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Theo như bạn đã nói ở trên, gia đình bạn bị người ta tống tiền và uy hiếp tinh thần với mục đích chiếm đoạt tài sản, như vậy, có thể thấy, hành vi này hoàn toàn thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội cướng đoạt tài sản quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999.

**Thứ hai: Về việc rút đơn bãi nại.

Đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

- Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

- Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

- Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

-Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Đối với trường hợp của bạn, bị cáo là người đã có hành vi phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội cưỡng đượt tài sản quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999, hành vi này không thuộc trường hợp nếu người bị hại rút đơn thì không truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, nếu bạn làm đơn bãi nại, thì hành vi của bị cáo vẫn bị xử lý hình sự theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Có đơn xin bãi nại còn bị truy tố trách nhiệm hình sự không ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi là tài xế lái xe.Tuần trước trong lúc đang lái xe đi làm, tôi đi ngang qua đường của nông trường cao su. Sau đó bị bảo vệ chặn lại và đòi tiền mới cho đi, tôi đã đưa tiền 400 nghìn đồng sau đó mấy ông bảo vệ cố ý đòi thêm tiền không cho đi, còn mang xe của họ ra làm rào chắn lại (hai cái xe của họ trị giá 2 triệu rưỡi), tôi tức quá chạy qua luôn cán lên xe của họ.
Sau đó bị công an đến lập biên bản, giữ xe của tôi. Bây giờ tôi đã đền tiền cho họ và bên nông trường đã viết đơn bãi nại.Vậy tôi sẽ bị xử như thế nào, còn chiếc xe ô tô của mình có bị sao không? (Cái xe của tôi mới mua chưa được sang tên, nhưng tôi đã lỡ khai là tài sản của tôi rồi, không biết cái xe có bị xung công quỹ không tôi kết hôn rồi cái xe này là tài sản chung của 2 vợ chồng) ?
Rất mong luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Có đơn xin bãi nại còn bị truy tố trách nhiệm hình sự không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Liên quan đến câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất: về hành vi cán xe của mấy ông bảo vệ.

Theo quy định tại Điều 143 Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản:

"1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Để che giấu tội phạm khác;
đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;
e) Tái phạm nguy hiểm;
g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."
Như vậy, căn cứ vào khoản 1, Điều 143, BLHS năm 1999 thì hành vi cán xe của bạn đã hủy hoại 2 chiếc xe của mấy ông bảo vệ và gây hậu quả là thiệt hại 2 triệu rưỡi đã cấu thành tội hủy hoại tài sản.

Thứ hai: vấn đề về đơn bãi nại.

Có thể hiểu đơn bãi nãi là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lí hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh sau:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

- Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

- Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

- Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

-Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Như vậy, đối với trường hợp của bạn, do bạn phạm tội hủy hoại tài sản được quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 không thuộc một trong 11 tội danh không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại, nên tuy bạn đã được bên nông trường viết đơn nãi nại nhưng bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại tài sản theo quy định của pháp luật. Về hình phạt, căn cứ theo khoản 1, Điều 143, BLHS năm 199 thì bạn có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Thứ ba: về xử lý chiếc xe ô tô của bạn.

Theo khoản 3, Điều 6 TThông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng kí xe do Bộ trưởng Bộ công an ban hành quy định: "Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe"

Như vậy, với trường hợp của bạn, nếu bạn mới mua xe dưới 30 ngày, trong thời hạn này, bạn có thể được phép chưa làm thủ tục đăng kí sang tên mà vẫn được coi là hợp pháp.

Về chiếc xe của bạn, do chiếc xe là công cụ phạm tội nên sẽ bị tịch thu theo điểm a, khoản 1, Điều 41, Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, do tội bạn phạm phải là tội ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, phạm tôi rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên chiếc ô tô của bạn không bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Vụ án có bị đình chỉ khi có đơn bãi nại ?

Thưa luật sư, Em 15 tuổi quan hệ với bạn trai 20 tuổi và đã có thai. Nhưng bị gia đình tố giác công an và anh ấy phải ra tòa. Vì biết em có thai nên hai đứa đã dắt nhau bỏ trốn sau đó bị truy nã và bị bắt về. Bây giờ gia đình em có làm đơn bãi nại và rút đơn kiện. Xin hỏi luật sư: Vậy anh ấy có bị xét xử nữa không? Khi ra tòa anh ấy có được hưởng án treo để ở nhà nuôi con không ạ ?
Em xin cảm ơn !

Vụ án có bị đình chỉ khi có đơn bãi nại ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Về vấn đề mà bạn thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Trước hết, cần phải xác định hành vi mà bạn trai bạn đã thực hiện phạm vào tội nào theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam. Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì:

"Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%."

Theo như phần trình bày của bạn, bạn (15 tuổi) và bạn trai bạn có hành vi quan hệ với nhau dẫn đến hậu quả làm bạn có thai. Như vậy, xét ở đây, việc giao cấu là hoàn toàn tự nguyện từ hai bên, bạn trai bạn năm nay cũng 20 tuổi, hoàn toàn đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Xét theo quy định tại điều luật trên, hành vi của bạn trai bạn cấu thành tội giao cấu với trẻ em với tình tiết tăng nặng định khung là làm nạn nhân có thai (điểm d khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự). Và mức khung hình phạt của tội này là từ ba năm đến mười năm. Là tội phạm nghiêm trọng.

Theo quy định tại Điều 88 Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại thì:

" Điều 88. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
1- Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109; đoạn 1, khoản 1 Điều 112; đoạn 1, khoản 1 Điều 113; khoản 1 Điều 116; khoản 1 Điều 117 và Điều 126 Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại.
2- Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà thì vụ án phải được đình chỉ.
Trong trường hợp cần thiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án."

Như vậy, đối chiếu theo quy định trên, chỉ đối với những trường hợp mà pháp luật đã liệt kê như khoản 1 điều luật quy định về các tội hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em, tội dâm ô với trẻ em... thì khi người bị hại rút đơn yêu cầu thì vụ án mới được đình chỉ. Còn trong trường hợp của bạn, như chúng tôi đã phân tích ở trên, bạn trai của bạn thực hiện hành vi được quy định tại khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự, không thuộc một trong các trường hợp tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự 2004 đã liệt kê như trên. Vì vậy, trong trường hợp này, dù bạn có rút đơn khởi kiện thì bạn trai bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hành sự đối với hành vi của mình.

Về mức hình phạt: theo như quy định tại khoản 2 Điều 115, mức hình phạt cao nhất của bạn trai bạn là phạt tù từ 3 năm đến 10 năm. Trong quá trình xét xử, nếu Tòa án xét thấy bạn trai bạn có các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự hoặc các tình tiết giảm nhẹ khác (kể cả việc xin giảm nhẹ của gia đình người bị hại) thì Tòa án có thể xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho bạn trai bạn.

Về điều kiện để được hưởng án treo, Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”. Tại Điều 6 của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP quy định thì điều kiện để được hưởng án treo khi người phạm tội có đủ các điều kiện sau:

"a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì.
Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.
c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên.
d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm”.

Như vậy, đối chiếu theo quy định trên, nếu bạn trai bạn được tòa án tuyên xử phạt tù từ 3 năm trở xuống, và có đủ các điều kiện như trên thì Tòa án có thể cho phép bạn trai bạn được hưởng án treo.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng!

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê