1. Có đơn xin bãi nại thì có bị truy tố trách nhiệm hình sự không ?

Xin chào văn phòng luật sư Minh Khuê! Tôi tên Hội cho tôi hỏi vấn đề sau: Tôi có một người bạn nợ một người kia 10tr đồng do anh này cung cấp cho cái mạng bóng đá chơi bị thua hết 10tr không có tiền trả một thời gian. Bạn tôi có nói sẽ từ từ trả.
Vào khoảng cuối tháng 7/2013 Trong lúc bạn tôi đi làm về thì anh ta có chặn đường bạn tôi lấy 1 chiếc xe máy dream trị giá 3,4tr, một điện thoại trị giá 300 ngàn, một cái ví trong ví có 3 thẻ ATM, một CMND, 1 cà vẹt xe và 103 ngàn trong ví.....và bắt viết giấy nợ trị giá 10tr đồng. Bạn tôi đã trình báo sự việc cho Công an và Công an đã xuống tận nhà a ta làm việc và lấy lấy lại tài sản, hiện giờ tài sản nêu trên đang được Công an giữ để điền tra. Lúc trình báo với Công an bạn tôi có khai vì nợ a ta một số tiền 10tr do a ta đưa trang mạng cho chơi cá độ hết không có tiền trả nên a ta chặn đường dùng vũ lực để lấy tài sản. Gia đình a ta có năng nỉ bạn tôi viết 1 đơn xin bãi nại cho a ta không bị truy tố hình sự, bạn tôi đã viết gửi lên Công an

Xin hỏi Luật sự như vậy bạn tôi có bị gì không và a ta có bị truy tố hình sự không sau khi bạn tôi viết đơn xin bãi nại!

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: hoiconspy

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi hướng dẫn bạn cách giải quyết như sau:

Bạn thân mến, thắc mắc của bạn có 2 vấn đề cần quan tâm như sau:

Thứ nhất: vấn đề về hành vi chặn đường lấy tài sản của người khác

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn của bạn có nói sẽ từ từ trả tiền cho người kia. Bạn của bạn không dùng thủ đoạn hay hành vi lừa dối nào đối với người kia để có được số tiền 10 triệu đồng. Do vậy, bạn của bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc chậm trả khoản tiền 10 triệu đồng đó.

Đối với hành vi chặn đường lấy xe, lấy các tài sản bạn của bạn thì được giải quyết như sau:

Dựa theo quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự năm 1999 (luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009), hành vi chặn đường lấy xe máy và các tài sản khác của người khác thì sẽ phạm phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản được nêu rõ như sau :

“Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”- trích khoản 1 Điều 137 BLHS năm 2009.

Ngoài ra, tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 137 BLHS năm 2009 đã có quy định về các mức phạt tương ứng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Do bạn không cung cấp được chính xác khoản tiền, tài sản mà bạn của bạn bị chiếm đoạt nên tôi không thể xác định được mức hình phạt người kia phải chịu. Tuy nhiên, tôi cung cấp cho bạn mức tiền chiếm đoạt cùng với mức hình phạt để bạn tham khảo như sau:

Với hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị như quy định tại khoản 1 Điều 137 BLHS năm 2009 nêu trên thì mức phạt là bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 137 BLHS năm 2009 : “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm khi“Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng” – trích khoản 3 Điều 137 BLHS năm 2009. Hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân được áp dụng khi “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên” – trích điểm a khoản 4 Điều 137 BLHS năm 2009. Mức hình phạt cụ thể mà người kia phải chịu sẽ do Tòa án quyết định trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ hai: vấn đề về đơn bãi nại

Bạn thân mến, đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

- Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

- Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

- Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

-Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Đối với trường hợp của người kia, như tôi đã phân tích ở trên, anh ta phạm phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 BLHS năm 2009. Người vi phạm tội danh này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại của người bị hại. Do đó, bạn của bạn đã làm đơn bãi nại nhưng anh ta vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Chúc bạn của bạn may mắn!

Trân trọng./.

2. Điều kiện để được bãi nại cho người thân phạm tội trộm cắp tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề như sau, rất mong được luật sư tư vấn giải quyết : Anh trai tôi đang làm nhà, cũng chạy vạy khắp nơi để mượn tiền làm nhà vì túng thiếu. Tối ngày 21/08 vừa rồi anh trai tôi sau khi ăn uống với nhóm thợ xây xong thì về nhà bố mẹ ( cách chỗ nhà anh xây khoảng 25km).

Trên đường về đi qua chỗ cách nhà bố mẹ tôi 3km, thấy nhà ven đường đang xây dỡ, không có ai trông nom anh tôi đã về nhà bố mẹ mượn xe bò của hàng xóm lấy 47 thùng gạch của gia đình đang xây nhà đó. Sáng hôm sau, bố mẹ tôi thấy gạch trong nhà nhiều nên hỏi thì ảnh bảo gạch bạn cho làm nhà.Thiệt hại được đánh giá 9.200.000đ.

Sau khi bị công an bắt và giờ đã được về nhà, anh trai tôi đã trả lại số gạch lấy trộm, bồi thường cho gia đình bị hại, nhưng gia đình bị hại không lấy, họ lên phường ( nơi họ báo bị mất gạch) xin bãi nại cho anh trai tôi, xin giảm nhẹ cho anh tôi vì họ đã lấy lại được gạch, với lại hành vi lúc lấy trộm là say xỉn, lúc túng quẫn làm liều, nhưng công an phường bảo không giải quyết được đã chuyển hồ sơ lên thành phố, họ không nhận đơn xin bãi nại của người bị hại. Giờ công an Tp đã có quyết định khởi tố vụ án. Phía công an, lúc làm hồ sơ vụ án,đã bảo gia đình chúng tôi phải bỏ ra 5.000.000đ làm hồ sơ vụ án, giờ họ bảo phải chi cho họ 20.000.000 thì sẽ xử ra tòa bình thường nhưng chịu án treo 6 tháng, không được đi khỏi nơi cư trú. Còn không thì chịu từ 6 tháng đến 5 năm tù giam. Mà họ bảo 5 năm là chắc. Thiết nghĩ đã nghèo, làm nhà không có tiền mua ghạch, nên nghĩ quẫn, ai ngờ giờ xảy ra cơ sự này. Giờ mọi người trong nhà lòng như lửa đốt, số tiền 20.000.000đ giờ với gia đình tôi rất lớn. Tính ra mua gạch làm nhà cũng đâu có tới số tiền này, mất danh dự, mất tiền, lại làm bố mẹ tôi lo lắng. Cái giả quá đắt phải trả cho hành động nông nỗi.

Mong luật sư tư vấn giúp tôi, giờ gia đình tôi nên làm thế nào. Kính mong luật sư giúp đỡ. Mong sớm nhận được hồi âm từ luật sư. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi.

Điều kiện để được bãi nại cho người thân phạm tội trộm cắp tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về miễn tội danh, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn thân mến, đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009)

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

- Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

- Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

- Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

- Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Có thể thấy, hành vi trên của anh bạn là phạm tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Như vậy, mặc dù có đơn bãi nại từ phía bị hại nhưng anh bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.

Theo như phân tích ở trên, anh trai bạn phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 138, mức án cao nhất anh bạn nhận được là 3 năm tù giam, chứ không phải năm năm tù giam. Tuy nhiên, anh trai của bạn có một số tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 BLHS 1999 như sau:

"b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;"

Như vậy, Tòa án có thể căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức phạt cho anh bạn. Trường hợp của anh bạn, nếu có nhân thân tốt, có thể sẽ được hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 BLHS như sau:

"Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Theo quy định tại Điều 21, Điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 Điều 98 BLTTHS thì chỉ khi bị kết án và có quyết định của Tòa án thì người phạm tội hình sự mới phải nộp án phí hình sự. Trước đó, trong giai đoạn chuẩn bị hồ sơ để khởi tố của cơ quan kiểm tra, sẽ không phải đóng bất cứ khoản án phí hay lệ phí nào. Như vậy yêu cầu của cơ quan công an là không có cơ sở pháp luật, là trái quy định pháp luật.

"Điều 98. Án phí

Án phí là tất cả chi phí để tiến hành tố tụng hình sự bao gồm tiền thù lao cho người làm chứng, người bị hại, người giám định, người phiên dịch, người bào chữa trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định và các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật; án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Điều 99. Trách nhiệm chịu án phi

1. án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật.

2. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Toà án.

3. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nếu Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại phải trả án phí."

Bất kỳ một vụ án hình sự nào đều được tiến hành theo quy trình được quy định tại BLTTHS và được xử công khai, minh bạch tại Toàn án, không có vụ án nào bị xử theo cách "không bình thường". Vì vậy, có thể thấy,hành vi của cơ quan điều tra là trái quy định pháp luật. Nếu có căn cứ chứng minh về những yêu cầu nêu trên, gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo về hành vi này của cơ quan công an theo quy định tại Luật tố cáo 2011: Theo quy định, thì khi phát hiện ra hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm cả hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong khi thi hành công vụ là trái với pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì công dân có thể tố cáo hành vi đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Tư vấn viết đơn bãi nại hoặc đơn tố cáo (đơn đề nghị khởi tố) trong vụ án hình sự ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có vấn đề mong quý luật sư giải đáp. Trên đường đi khám nghĩa vụ quân sự về, vì anh A để xe giữa đường đi nên Em trai tôi xảy ra xô xát với anh A. Anh A và nhóm bạn A đánh em tôi tàn nhẫn trước sự chứng kiến của nhiều người và lên xe định bỏ đi, vì ấm ức, em tôi cầm hung khí bắt A phải xuống xe không được bỏ đi. Anh A đã lái xe tông thẳng vào em tôi, khiến em tôi tử vong tại chỗ.
Trong quá trình làm tang lễ cho em, gia đình anh A có mang 30 triệu xuống phụ việc tang lễ cho Em.
Quý luận sư xin cho tôi hỏi:
Nếu gia đình tôi viết đơn bãi nại thì a phải chụi hình phạt như thế nào? mức đền bù cho gia đình tôi là bao nhiêu? xe của a pháp luật giải quyết như thế nào? trường hợp gia đình tôi viết đơn tố cáo, a bị sử lý theo pháp luật như thế nào? mức án của a là bao nhiêu?(a đã ngồi tù vào mới ra tù). Xe của anh A có bị nhà nước tịch thu xung công quỹ hay không? thời gian bắt đầu tiến hành xét xử vụ án là bao nhiêu ngày kể từ ngày nộp đơn tố cáo? vì gia đình tôi có anh chị đã lập gia đình hết, mẹ tôi thì bị bệnh nặng không thể lao động, mọi việc phụ thuộc vào ba, e tôi đi làm gởi tiền về phụ nuôi mẹ bệnh,bà nội già 97 tuổi và e nhỏ 4 tuổi. Quý luật sư cho tôi hỏi a phải bồi thường như thế nào là hợp pháp? có phải thay em tôi nuôi e mnhỏ 4 tuổi cho tới khi em đến 18 tuổi không? gia đình rất bối rồi xin quý luật sư giải đáp?
Tôi chân thành cảm ơn.

Tư vấn viết đơn bãi nại hoặc đơn tố cáo (đơn đề nghị khởi tố) trong vụ án hình sự ?

Luật sư tư vấn:

Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

Như bạn trình bày: Mâu thuẫn xẩy ra giữa em trai của bạn với anh A. Lý do là anh A để xe giữa đường dấn đến xô xát nhau. Sau khi bị nhóm anh A đánh. Em của bạn đã tìm cách dữ chân anh A lại. Nhưng hậu quả là em của bạn bị anh A sử dụng xe của anh A đâm thẳng vào người em bạn. Khiến em bạn tử vong tại chỗ.Sau đó gia đình anh A có hỗ trợ 30 triệu phụ việc tang lễ cho em bạn.

Trong trường hợp này nếu như bạn có đơn bãi nại cho anh A thì pháp luật quy định như sau: Đơn bãi nại của bạn chỉ có giá trị. Nếu kết luận điều tra của cơ quan điều tra hình sự kết luận là hành vi của anh A gây ra cái chết cho em bạn thuộc vào trường hợp tại khoản 1 điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Nếu như đơn bãi nại của bạn được chấp nhận thì sẽ được cơ quan điều tra đình chỉ điều tra. Điều 105 Luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

Điều: 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Còn nếu không thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 105 của bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì dù có đơn bãi nại hay không thì cơ quan điều tra vấn thực hiện điều tra và truy tố anh A như quy định của pháp luật.

Về xác định tội danh, loại hình phạt ,khung hình phạt và mức bồi thường dân sự thì còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố khác để xác định như: Kết luận của cơ quan điêu tra, lý lịch nhân thân, các tình tiết giam nhẹ, tăng nặng……..

Về thơi gian kể từ ngày có đơn tố cáo đến khi mở phiên tòa xét xử : Đây là thời gian bắt đầu từ có quyết định từ khởi tố,điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, xét xử. Như vậy để nhanh hay chậm cũng phải phụ thuộc vào công tác điều tra, nghiên cứu vụ án của cơ quan điều tra , viện kiểm sát và tòa án.

Đối với chiếc xe của anh A gây ra cái chết cho em bạn: Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009. (thay thế bằng Bộ luật hình sự năm 2015) thì xe của anh A là phương tiện dùng vào việc phạm tội nen sẽ bị tịch thu sung quỹ nhà nước;

"Điều 41: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Việc tịch thu, sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;”

Đối với trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của anh A đối với gia đình bạn được Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau: Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định:

"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

- Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành

II. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI

2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

Như vậy từ căn cứ pháp lý trên, cho thấy gia đình bạn chỉ được hưởng tiền mai táng và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của em bạn; Còn tiền cấp dưỡng cho người em 4 tuổi của bạn không được chấp nhận. Vì bố bạn còn sống. Em 4 tuổi của bạn chỉ được anh A cấp dưỡng khi bố mẹ của em bạn không còn sống hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho em bạn. Và em bạn phải cấp dưỡng cho em 4 tuổi của bạn, khi em bạn còn sống.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về "Tư vấn viết đơn bãi nại hoặc đơn tố cáo (đơn đề nghị khởi tố) trong vụ án hình sự ?" . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Mức án phải chịu khi có giấy bãi nại hoặc không có giấy bãi nại ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi muốn được giải đáp: A và B cùng đi trên một tàu đánh cá (tàu có 11 người) khi cập bến để lấy thêm nhiên liệu cho chuyến tiếp theo. Được chủ nội cho 1 con gà và 2 thùng bia nên anh em trong tàu tổ chức liên hoan. A ở lại thuyền nhậu với anh em còn B lên bờ đi cafe và có uống vài lon bia với bạn sau khi trở về tàu B cũng tham gia cùng anh em.

Mọi người trong tàu củng tranh thủ uống xí đỉnh để mai bán cá rồi đi ngủ . A gác chân lên võng của B .B noi"chú bỏ chân xuống cho con ngủ" A khó chịu nói giọng CHA CHÚ với B . B bức xúc nói lại . A liền đánh B bạt tai. B đạp lại A một cước. A Té xuống chổ bếp nấu ăn. Chổ bếp nấu ăn có dao A liền rút dao ra định đâm B. B hoảng quá liền nhanh tay giật được dao đâm lại nhưng xui là trúng chổ hiểm A mất mạng .B hoàn toàn không muốn điều này xảy ra nhưng điều không mong muốn đã xảy ra.B rất thương mẹ nên sau khi sự việc xảy ra B quyết định về quê thăm mẹ rồi ra đầu thú . Trên đường đi về B củng đã gọi nói chuyện với công an trình bày nguyện vọng của mình và sau khi thăm mẹ B đã ra đầu thú nhận lỗi về hành vi của mình. Được biết A 44 tuổi hay ăn uống rồi gây sự trong tàu. A có 3 con 1 học lớp 5 ,1 lớp 9 còn 1 con 17 tuổi cũng đi làm biển .còn B hiền ít nói hồi giờ chưa có tiền án tiên sự gì được bà con xóm làng rất thương mến . B là lao động chính trong nhà nuôi 2 em học đại học và ba mẹ đau ốm. Cho tôi hỏi về mức án mà B phải chịu nếu có giấy bãi nại và nếu không có giấy bãi nại và phí mà A phải bồi thường cho B là bao nhiêu?

Tôi xin cảm ơn !

Mức án phải chịu khi có giấy bãi nại hoặc không có giấy bãi nại ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, B đã cầm dao đâm A trong trạng thái hoản loạn, cũng vì lý do bảo vệ bản thân. Theo Điều 15 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 có quy định về phòng vệ chính đáng thì:

“1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Trong trường hợp này, đã phát sinh quyền phòng vệ chính đáng của B. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì phòng vệ chính đáng là chống trả lại một cách cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi tấn công trong trường hợp cụ thể. Trong trường hợp của B, B có thể phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 96 BLHS:

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm”.

Về bồi thường thiệt hại do tính mạng xâm phạm được quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự 2005 :

“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

Thứ hai là đơn bãi nại. đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 , nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

- Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

- Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

- Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

- Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

-Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Đối với trường hợp của anh B thì tội của anh là phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng - không thuộc các tội danh mà pháp luật không xử lý khi có đơn bãi nại. Như vậy, dù có đơn bãi nại hay không có đơn bãi nại thì anh B vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Và căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì anh B sẽ được mức giảm án cụ thể.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Có phải cứ có đơn bãi nại thì sẽ không bị khởi tố?

Về nguyên tắc khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể can thiệp. Tuy nhiên, trong một số tội nhất định, pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, đây thường là những tội xâm phạm đến sức khoẻ, danh dự của người bị hại.

Có phải cứ có đơn bãi nại thì sẽ không bị khởi tố?

Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được hiểu là quyền của người bị hại, có nghĩa chỉ khi nào người bị hại có đơn đề nghị khởi tố một người về hành vi phạm tội thì cơ quan có thẩm quyền mới khởi tố vụ án. Việc khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại không áp dụng với tất cả các tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vậy ở những tội nào thì cần phụ thuộc vào đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại?

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Như vậy có đến 10 trường hợp khởi tố theo yêu cầu người bị hại, bao gồm:

1. Khoản 1 Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:.."

2. Khoản 1 điều 135: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

3. KHoản 1 điều 136: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

4. Khoản 1 điều 138 : Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Khoản 1 điều 139: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Khoản 1 điều 141: Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

7. Khoản 1 điều 143: Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

8. Khoản 1 điều 155 Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

9. Khoản 1 điều 156: Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

10. Khoản 1 điều 226: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Vậy có phải mọi trường hợp đã tố cáo ra công an mà rút đơn thì sẽ không bị khởi tố?

Theo quy định trên có thể hiểu, tội phạm nào khởi tố theo người bị hại thì việc rút đơn không yêu cầu khởi tố cũng sẽ phụ thuộc vào người bị hại. Vì thế đối với những tội mà theo yêu cầu của người bị hại mới được khởi tố thì khi người bị hại rút đơn khởi tố thì sẽ không tiến hành khởi tố nữa "Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án."

Còn đối với những tội phạm khác mà không thuộc phạm vi 10 trường hợp liệt kê ở trên, thì ngay cả khi người bị hại không còn muốn khởi tố, đã rút đơn, mà công an điều tra có đầy đủ căn cứ chứng minh phạm tội thì vẫn khởi tố bình thường.

Ví dụ: A cướp xe máy của B, xe trị giá 80 triệu , B làm đơn tố cáo ra công an, trong quá trình điều tra thì A đã thương lương, bồi thường, trả lại xe cho B; cho nên B làm đơn bãi nại, đề nghị công an không khởi tố. Tuy nhiên trường hợp này vì tội cướp tài sản không thuộc phạm vi khởi tố theo yêu cầu người bị hại, cho nên việc B làm đơn không quyết định đến quyết định khởi tố của công an...

Trân trọng!

6. Mẫu đơn xin bãi nại và mẫu đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự.

Thưa luật sư, em là bị hại trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sự việc là cháu của em mượn xe máy rồi mang đi cầm cố, em bực mình quá nên báo công an vào cuộc. Nay cơ quan công an đang hoàn thiện hồ sơ khởi tố vụ án. Nay em muốn làm đơn xin dừng việc này lại vì giáp tết rồi em không muốn cháu phải ngồi trong trại. Em nghe bảo phải làm đơn xin nhưng không biết phải làm đơn gì ?
Em xin luật sư hướng dẫn giúp em về vấn đề này với ạ. Cảm ơn luật sư nhiều!

Mẫu đơn xin bãi nại và mẫu đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự.

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn:

Trường hợp này của bạn thì có thể làm đơn xin bãi nại và gửi đến cơ quan tố tụng gồm Viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan công an điều tra. Dưới đây là mẫu đơn xin bãi nại bạn có thể tham khảo!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

……….., ngày……tháng…….năm ………..

ĐƠN XIN BÃI NẠI

(Đối với………….. trong vụ án……………………………..)

Kính gửi:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện/quận……, công an tỉnh
  • Viện kiểm sát nhân dân huyện/quận…., tỉnh…..
  • Tòa án nhân dân huyện/quận….., tỉnh ……….

Tôi là ………………., sinh năm ……………. địa chỉ: ……………….., tôi là người bị hại trọng vụ án ……………………….do ông/bà………………………………gây ra đang được quý các cơ quan tiến hành Điều tra/Truy tố về tội………

Bằng văn bản này tôi xin bãi nại (rút toàn bộ các yêu cầu và đề nghị khởi tố vụ án nêu trên, khởi tố bị can đối với ông/bà………) và đề nghị quý các cơ quan tiến hành Đình chỉ Điều tra/Đình chỉ việc truy tố và giải quyết vụ án nêu trên, lý do xin rút như sau:

Chúng tôi đã thống nhất và thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại có liên quan đến vụ án này, Ông/bà……. sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ăn năn, hối cải, khắc phục hậu quả và nhận thức được hành vi vi phạm của mình, mong muốn chuộc lại lỗi lầm và phấn đấu trở thành công dân tốt. Nhận thấy hành vi và nhận thức của ông/bà là thành khẩn, không nhất thiết phải trừng trị trước pháp luật hơn nữa việc gây nguy hại cho tôi là người bị hại cũng không lớn do đó không nhất thiết phải tiến hành điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội này.

Nay, tôi làm đơn này đề nghị Quý các cơ quan tiến hành việc đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án nêu trên.

Tôi làm đơn này trong điều kiện sức khỏe tốt, hoàn toàn tỉnh táo, minh mẫn, không bị bất kỳ sự cưỡng ép, đe dọa nào, việc làm đơn này là đúng với ý trí và nguyện vọng của tôi.

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ nội dung của đơn này và những điều tôi đã cam kết, trình bày tại đơn này.

Kính đề nghị Quý cơ quan xem xét, tạo điều kiện giúp đỡ.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người làm đơn bãi nại

(Ký, ghi rõ họ tên)

Bởi vì ở trường hợp này Luật sư chưa rõ là người cháu đã bị truy tố hay chưa, cơ quan tố tụng đã giải quyết vụ án đến giai đoạn nào nên bạn cũng có thể tham khảo mẫu đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với đơn này thì cháu của bạn làm đơn và gửi Tòa án và Viện kiểm sát để xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới đây là mẫu đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự bạn có thể tham khảo.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

______***_______

……………., ngày ….. tháng …… năm 20….

ĐƠN XIN MIỄN TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Kính gửi: - TÒA ÁN NHÂN DÂN...

- VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ...

Tôi tên: ........ …………………….., Sinh năm .....................................................

Địa chỉ tại:.......................................................................................................

CMND số: ……………………........cấp ngày:……/…./20….. tại............................

Là bị cáo trong vụ án..............................………………… đã bị truy tố theo cáo trạng số:..................ngày......................và sẽ bị xét xử vào ngày …….. tại Tòa sơ thẩm Tòa Án Nhân Dân..............

Tôi xin trình bày như sau:

Vì ........................... nên tôi đã có những sai sót và những vi phạm trong thời gian qua. Kết quả là tôi sẽ phải ra Tòa để chịu xét xử vào ngày.........sắp tới.

Dù tôi biết là mình có lỗi và rất ăn năn về lỗi lầm này, nhưng thật sự tôi không cố ý phạm tôi, tôi không vì động cơ cá nhân khi vi phạm. Ngoài ra, mọi hậu quả đều đã được khắc phục hoàn toàn và ………………………có văn bản xin xem xét cho trường hợp của tôi.

Bằng sự tuyệt đối tin tưởng vào chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà Nước, tôi làm đơn này thỉnh cầu quý Tòa và quý Viện xem xét cho tôi được trách nhiệm hình sự đối với các sai phạm của tôi trong phiên tòa sắp tới.

Tôi xin cam kết ...................................

Tôi xin chân thành cảm ơn!

(Ký tên)

Nguyễn Văn/Thị A

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê