Vào khoảng cuối tháng 7/2013 Trong lúc bạn tôi đi làm về thì anh ta có chặn đường bạn tôi lấy 1 chiếc xe máy dream trị giá 3,4tr, một điện thoại trị giá 300 ngàn, một cái ví trong ví có 3 thẻ ATM, một CMND, 1 cà vẹt xe và 103 ngàn trong ví.....và bắt viết giấy nợ trị giá 10tr đồng. Bạn tôi đã trình báo sự việc cho Công an và Công an đã xuống tận nhà a ta làm việc và lấy lấy lại tài sản, hiện giờ tài sản nêu trên đang được Công an giữ để điền tra. Lúc trình báo với Công an bạn tôi có khai vì nợ a ta một số tiền 10tr do a ta đưa trang mạng cho chơi cá độ hết không có tiền trả nên a ta chặn đường dùng vũ lực để lấy tài sản. Gia đình a ta có năng nỉ bạn tôi viết 1 đơn xin bãi nại cho a ta không bị truy tố hình sự, bạn tôi đã viết gửi lên Công an

Xin hỏi Luật sự như vậy bạn tôi có bị gì không và a ta có bị truy tố hình sự không sau khi bạn tôi viết đơn xin bãi nại!

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: hoiconspy

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi hướng dẫn bạn cách giải quyết như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 (luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009);

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;

2. Luật sư tư vấn:

Bạn thân mến, thắc mắc của bạn có 2 vấn đề cần quan tâm như sau:

Thứ nhất: vấn đề về hành vi chặn đường lấy tài sản của người khác

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn của bạn có nói sẽ từ từ trả tiền cho người kia. Bạn của bạn không dùng thủ đoạn hay hành vi lừa dối nào đối với người kia để có được số tiền 10 triệu đồng. Do vậy, bạn của bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc chậm trả  khoản tiền 10 triệu đồng đó.

Đối với hành vi chặn đường lấy xe, lấy các tài sản bạn của bạn thì được giải quyết như sau:

Dựa theo quy định tại Điều 137 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, hành vi chặn đường lấy xe máy và các tài sản khác của người khác thì sẽ phạm phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản được nêu rõ như sau : “  Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”- trích khoản 1 Điều 137 BLHS năm 2009.

Ngoài ra, tại  khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 137 BLHS năm 2009 đã có quy định về các mức phạt tương ứng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Do bạn không cung cấp được chính xác khoản tiền, tài sản mà bạn của bạn bị chiếm đoạt nên tôi không thể xác định được mức hình phạt người kia phải chịu. Tuy nhiên, tôi cung cấp cho bạn mức tiền chiếm đoạt cùng với mức hình phạt để bạn tham khảo như sau:

Với hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị như quy định tại khoản 1 Điều 137 BLHS năm 2009 nêu trên thì mức phạt là bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 137 BLHS năm 2009 : “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm khi“Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng” – trích khoản 3 Điều 137 BLHS năm 2009. Hình  phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân được áp dụng khi “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên” – trích điểm a khoản 4 Điều 137 BLHS năm 2009. Mức hình phạt cụ thể mà người kia phải chịu sẽ do Tòa án quyết định trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ hai: vấn đề về đơn bãi nại

Bạn thân mến, đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

 -Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

  Đối với trường hợp của người kia, như tôi đã phân tích ở trên, anh ta phạm phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 BLHS năm 2009. Người vi phạm tội danh này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại của người bị hại. Do đó, bạn của bạn đã làm đơn bãi nại nhưng anh ta vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Chúc bạn của bạn may mắn!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê