Trong các hàng chuyển đi là anh đã thu tiền mặt nhưng không nộp về cho công ty, mà tôi là một trong số những người khác quản lý công nợ đó. Nhưng đến nay anh Quản lý đó đã ôm tiền và bỏ trốn khỏi công ty. Giám đốc công ty đã yêu cầu chúng tôi viết bản tường trình sự việc và viết Đơn tố cáo anh quản lý kia về hành vi chiếm đoạt tài sản. Tôi đang băn khoăn có nên viết không? Tôi là người quản lý công nợ trên phần mềm, tiền chưa về đến tay tôi, và tôi nghĩ tôi chưa có gì dàng buộc với công ty mà tự dưng viết đơn tố cáo anh kia là chiếm đoạt tài sản của tôi, thì có phải tôi đã tự nhận số tiền nợ đó về mình không? và nếu ra pháp luật thì tôi có làm sao không? Mà sự việc trên tôi đã báo cáo với Quản lý công nợ cấp trên của tôi về vấn đề nợ đọng này rồi mà chưa được giải quyết thì anh ta đã bỏ trốn. Hiện tại tôi đang rất bối rối. Tôi rất mong nhận được sự tư vấn của Luật sư sớm ạ.

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Có nên viết đơn tố cáo người khác chiếm đoạt tài sản?

Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Hình sự 1999

- Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009

2. Nội dung trả lời:

Khoản 1 Điều 139 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ.

Khoản 1 Điều 140 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo quy định trên về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản ) thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, nếu người quản lý điều hành của công ty bạn có dấu hiệu của một trong hai tội trên thì bạn hoàn toàn có quyền tố cáo hành vi này của người quản lý điều hành đến cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định của pháp luật thì tố cáo hành vi phạm tội là quyền của mọi công dân nên việc bạn tố cáo hành vi này không đồng nghĩa với việc bạn tự nhận số tiền nợ về mình. Và theo quy định của pháp luật thì chỉ những người có hành vi vi phạm hoặc phạm tội mới bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hành sự còn nếu bạn không có hành vi vi phạm hoặc không phạm tội thì bạn sẽ không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê