1. Xác định loại tội phạm theo cách phân loại tội phạm tại khoản 3 điều 8 BLHS và giai đoạn thực hiện tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản mà K đã thực hiện trong vụ án trên. Giải thích rõ tại sao?
2. Giả sử K mới 15 tuổi 6 tháng khi thực hiện hành vi nói trên thì K có phải chịu THHS không? tại sao?
3. Tòa có thể xét K được hưởng án treo không? Tại sao?
4. Giả sử K đã chiếm đoạt được chiếc xe máy và theo thỏa thuận từ trước với N ( người chuyên mua xe máy cũ), K bán chiếc xe này cho N lấy 30 triệu đồng thì N có phải chịu THHS về hành vi của mình không? tại sao?

Người gửi: Nhung

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162        

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009.

Nghị quyết 01/2007/NĐ-HĐTP quy định về hiệu lực Bộ luật Hình sự.

Nội dung trả lời:

Điều 139 BLHS quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

1. Xác định loại tội phạm và giai đoạn thực hiện tội phạm?

Như bạn trình bày, K bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù đối với tội trộm cắp tài sản. Để xác định phân loại tội phạm, căn cứ vào Khoản 3 Điều 8 BLHS:

" 3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình".

Vì K trộm chiếc xe máy có giá trị 150 triệu đồng, đồng thời mức phạt của K là 3 năm tù, nên đối chiếu với Điều 139, Khoản 3 Điều 8 thì K phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điềm e Khoản 2 Điều 139: e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng. Do mức cao nhất của khung hình phạt là 7 năm tù nên K phạm tội nghiêm trọng.

Xác định giai đoạn thực hiện tội phạm:

Do K đang dắt xe máy ra sân thì G trở về và bắt được nên giai đoạn thực hiện tội phạm của K là phạm tội chưa đạt:

" Điều 18.  Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những  nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt."

K cố ý thực hiện hành vi của mình đến cùng, không có ý định dừng lại; đồng thời việc K không tiếp tục thực hiện được hành vi là do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn (G trở về).

2. Giả sử K mới 15 tuổi 6 tháng khi thực hiện hành vi nói trên thì K có phải chịu TNHS không?

Điều 12 BLHS quy định:

" Điều 12.  Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm  đặc biệt nghiêm trọng."

Như vậy, tội phạm mà K thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Đồng thời K đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Do đó, theo Khoản 2 Điều 12, K không phải chịu TNHS về hành vi của mình.

3. Tòa có thể cho K hưởng án treo không?

Điều 60 BLHS quy định:

" Điều 60.  Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người  được hưởng án  treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người  được hưởng án  treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

 5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Đồng thời, Điểm 6.1 Mục 6 Nghị quyết 01/2007/NĐ-HĐTP quy định:

" 6.1. Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;

Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;

c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;

d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

6.2. Đối với người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù."

Như vậy, việc xác định K có được hưởng án treo hay không phụ thuộc vào các điều kiện theo quy định của pháp luật, như nhân thân của K, các tính tiết giảm nhẹ, việc xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. Nếu K có đầy đủ các điều kiện trên thì Tòa có thể xem xét cho K hưởng án treo được.

4. Giả sử K đã chiếm đoạt được chiếc xe máy và theo thỏa thuận từ trước với N ( người chuyên mua xe máy cũ), K bán chiếc xe này cho N lấy 30 triệu đồng thì N có phải chịu THHS về hành vi của mình không?

Do K và N thỏa thuận trước về việc bán chiếc xe sau khi trộm cắp được nên N được xác định là đồng phạm với K trong Tội trộm cắp tài sản, với vai trò là người giúp sức theo quy định tại Điều 20 BLHS: 

" Điều 20 Đồng phạm 

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2.  Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm."

Như vậy, N phải chịu TNHS về hành vi của mình với vai trò là người giúp sức cho K trong tội trộm cắp tài sản.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.