"Giờ tôi mới về quê sinh sống chưa được ổn định,để công việc ổn định tôi thu xếp gửi tiền lên trả". 2 tháng nay tôi chưa có tiền trả, người ta điện thoại nói sẽ kiện tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thưa luật sư xin cho tôi hỏi người này kiện tôi đúng hay sai? văn bản nào quy định điều này?

Tôi xin cảm ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi  : 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11

Nội dung phân tích:

Được biết bạn vay mượn tiền của người ta là 100 triều đồng đến mỗi tháng điều đóng tiền lãi đầy đủ tính tới bây giờ là được 6 năm bạn trả tiền lãi . Hiện bây giờ bạn làm ăn thất bại tôi cảm thấy ở tại địa phương tôi đang ở tôi không buôn bán được nữa không đủ điều kiện xoay sở trả đóng tiền lãi, tôi đã bỏ đi về quê , trước khi đi tôi có nói với người cho tôi vay tiền, bạn mới về quê sinh sống chưa được ổn định,để công việc ổn định bạn sẽ thu xếp gởi tiền lên trả. 2 tháng nay bạn chưa có tiền trả, người ta điện thoại nói sẽ kiện tôi tội lừa ,đảo chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

- Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139  Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 :"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm." Hành vi gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét dưới 2 góc độ sau:

 +  Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
+ Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Vậy, xét thấy bạn không hề có hành vi gian dối vì ngay từ đầu, bạn không hề dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền như bạn cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật để người cho vay tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. Bạn đã trả tiền lãi mỗi tháng cho người cho vay đều đặn trong 6 năm. Sau đó, bạn cũng đã có thông báo với người cho vay khi không có khả năng trả lãi và xin đợi đến khi thu xếp công việc ổn định sẽ trả. Như vậy, theo như bạn cung cấp thông tin, bạn vẫn hợp tác với người cho vay trong quá trình trả nợ nhưng hiện tại bạn không có khả năng chi trả. Vậy việc người cho vay khởi kiện bạn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là sai.

Tuy nhiên,  bạn cần cố gắng để trả nợ cho chủ nợ. Trường hợp bạn đến hạn mà bạn không trả hết nợ thì chủ nợ có quyền khởi kiện bạn ra Tòa án để yêu cầu trả nợ. Nhưng đây chỉ là vụ việc dân sự mà không phải là vụ án hình sự vì theo  Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005, giữa bạn và người cho vay đã giao kết một hợp đồng vay tài sản nên bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo Điều 474 Bộ luật Dân sự. Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư hình sự​.