1. Nộp lên công an huyện, quận tại nơi anh ta tạm trú (cùng với nơi ở của chúng tôi) hay tại nơi anh ta đăng ký hộ khẩu thường trú?

2. Anh ta đã trốn khỏi nơi tạm trú, ko biết anh ta giờ trốn ở đâu vậy tôi có thể làm đơn kiện anh ta ko (tôi nghe mọi ng nói nếu anh ta bỏ trốn mà ko biết địa chỉ nơi ở mới của anh ta thì ko kiện đc)?

3. Tôi có thể gửi đơn bằng chuyển phát nhanh đến cơ quan công an cấp huyện anh ta đang sống đc ko vì nơi đăng kí hộ khẩu của anh ta rất xa nơi chúng tôi sống, giờ tôi chưa có điều kiện đến trực tiếp để gửi đơn.

4. Chúng tôi có địa chỉ số nhà chính xác nhà của anh ta, anh ta chưa lấy vợ, nếu chúng tôi kiện mà anh ta ko có mặt tại nhà thì bố mẹ anh ta có phải chịu trách nhiệm gì về hành vi lừa đảo của anh ta ko?

5. Cái xe máy anh ta mượn của tôi và em chồng tôi, chúng tôi đã tìm ra địa chỉ anh ta cắm (gần ngay nhà chúng tôi, chủ tiệm cầm đồ có bảo anh ta (người lừa đảo chúng tôi) bỏ đi rồi, nếu chúng tôi ko chuộc xe họ sẽ bán xe của tôi).

Vậy chúng tôi phải làm thế nào? Có người bảo nếu kiện người lừa đảo chúng tôi thì phải để yên xe trong tiệm cầm đồ rồi báo công an mới đc, nếu chuộc xe ra thì ko còn chứng cứ (nhưng nếu ko chuộc xe chúng tôi sẽ bị chủ tiệm cầm đồ bán xe) Nếu chúng tôi để xe đấy rồi kiện người lừa đảo, thì chủ tiệm cầm đồ có trả xe cho chúng tôi ko, hành vi của chủ tiệm cầm đồ sẽ bị xử lý như thế nào khi cầm đồ cho anh ta chỉ có giấy đăng ký xe của tôi (giấy tờ xe của tôi là chính chủ), và anh ta nói anh ta cầm đồ nhưng có giấy bán xe của tên lừa đảo xe của chúng tôi.

Mong sớm nhận được sự tư vấn từ Luật sư!

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi, vấn đề của bạn, Luật Minh Khuê xin được trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:  

Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 ngày 26/11/2003

Luật tố cáo số  03/2011/QH13

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn:

 Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố giác tội phạm:

- Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Luật tố cáo 2012  quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”

Theo quy định tại Điều 3 Luật tố cáo 2011 về việc áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo:

1. Việc tố cáo của cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

3. Trường hợp luật khác có quy định khác về tố cáo và giải quyết tố cáo thì áp dụng quy định của luật đó.”

Theo đó nếu một người có hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản thì bạn phải tố giác theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự theo Khoản 2, điều 3 Luật tố cáo như trên.

Như vậy, bạn có thể thực hiện việc tố giác người này ra cơ quan có thẩm quyền quy định tại   Điều 101 BLTTHS “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”

- Theo quy định tại khoản 4, Điều 110 BLTTHS quy định về thẩm quyền điều tra:

“4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.”

Như vậy theo các quy định trên thì bạn có thể gửi đơn tố giác hoặc trực tiếp đến cơ quan điều tra; viện kiểm sát; tòa án hoặc cơ quan khác nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi phát hiện tội phạm hoặc nơi người có hành vi vi phạm cư trú để tố giác về hành vi lừa đảo này.

Trong trường hợp của bạn thì bạn xác định xem người mà có hành vi lừa đảo này tại địa bàn nào, hoặc nếu không xác định được rõ nơi xảy ra hành vi lừa đảo thì bạn có thể tố giác người này ra cơ quan công an nơi người này cư trú.

2. Thủ tục và thời gian giải quyết:

Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS quy định cụ thể thời gian giải quyết tố giác và cơ quan có thẩm quyền giải quyết cụ thế như sau:

"Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.”

Như vậy bạn có thể áp dụng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự như trên để ra các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo điều 101 BLTTHS. Tuy nhiên khi ra tố giác bạn cần phải có thêm một số bằng chứng chứng minh về hành vi vi phạm của người này có thật trên thực tế thì cơ quan có thẩm quyền sẽ có căn cứ điều tra vấn đề mà bạn tố giác.

Về việc đòi lại chiếc xe của bạn, 

Theo quy định tại điều 326 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.

Người kia mang chiếc xe mà bạn là chủ sở hữu đi cầm cố như tài sản riêng của mình là hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy việc người đó đem chiếc xe của bạn ra hiệu cầm đồ cầm cố tài sản đó là một giao dịch dân sự vô hiệu vì chiếc xe đó thuộc sở hữu của bạn. 

Theo quy định tại điều 137 của Bộ luật dân sự thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là:

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.".

Do hành vi cầm cố xe của bạn của bạn là hành vi vi phạm pháp luật vì vậy trong trường hợp này bạn sẽ phải cùng cán bộ công an và người mang xe của bạn đi cầm cố đến cửa hiệu cầm đồ đó đưa ra những bằng chứng, giấy tờ để chứng tỏ rằng xe đó là xe của bạn, yêu cầu cửa hiệu cầm đồ trả lại xe cho bạn. Chủ cửa hàng cầm đồ biết chiếc xe máy không phải của bạn kia nhưng vẫn nhận lời cầm thì người đó có thể phạm tội đồng phạm với người cầm cố xe của bạn. Bạn có cần trình báo Cơ quan công an để xem xét giải quyết kịp thời.Cơ quan công an, Viện kiểm sát sẽ xem xét tình hình, khởi tố vụ án để điều tra, áp dụng các biện pháp xử lý vật chứng cụ thể là chiếc xe của bạn theo quy định tại Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 58. Xử lý vật chứng.
1- Việc xử lý vật chứng do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Chánh án, Phó chánh án Toà án cùng cấp hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2- Vật chứng được xử lý như sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc sở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung  quỹ Nhà nước;
c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;
d) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b, khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4- Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo tố tụng dân sự."

Như vậy, bạn hoàn toàn có thể lấy lại được chiếc xe.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự