Còn bảo với tôi là có bạn bè người quen làm bên cơ quan đang nhận xây nên bảo tôi cứ yên tâm. Vì cũng tin tưởng nên tôi không làm giấy hợp đồng cụ thể. Tôi bắt đầu cấp vật liệu từ ngày 03/4/2015 đến 23/4/2015 thì cấp đủ vật liệu. Đến tháng 5/2015 thì công trình hòan thành và bàn giao cho cơ quan. Sau khi hòan thành bàn giao thì tôi có hỏi người này trả tiền cho tôi thì đến ngày 7/6/2015 có trả tôi được 10 triệu rồi từ đó đến giờ còn nợ lại tôi là 10.500.000.

Không thấy trả tôi điện thì lúc nghe lúc không đôi khi tắt điện thọai không liên lạc được. Rồi tôi hỏi lần nữa là vào ngày 20/8/2015 và bảo tôi đến 24/8/2015 để xuống lấy tiền. Và đúng hẹn tôi xuống hỏi và bị 2 vợ chồng đóng cửa và tắt điện định hành hung tôi rất may gia đình có người già can thiệp kịp thời nên tôi thóat ra ngòai được. Lúc tôi thóat ra ngòai thì bên lấy vật liệu của tôi còn nói với tôi là tiền thì giờ em không trả anh nữa anh muốn làm gì thì làm (lúc tôi đi 1 mình không có ai làm chứng) rồi bà vợ có viết giấy ủy nhiệm cho tôi về hỏi cơ quan lấy. Tôi thiết nghĩ giấy không có chữ ký của chính quyền địa phương nên tôi cũng không hỏi mặc dù là đã viết cho tôi trong sổ. Đến gần tết vừa rồi tôi có ra cơ quan bên tôi cấp vật liệu xây dựng thì được biết bên thi công (nhà thầu) đã rút hết tiền và không mang tiền lên trả cho tôi và gọi điện cũng không trả lời tôi.

Vậy tôi xin hỏi tôi có quyền kiện người này ra tòa không và có được cho là tội lừa đảo chiếm đọat tài sản của người khác không? Và tôi phải làm thế nào để lấy lại số tiền vật liệu của mình?

Xin cảm ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn Luật hình sựgọi1900.1940.

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Nội dung phân tích:

Căn cứ vào Điều 401 Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Thì trường hợp bạn cung cấp vật liệu xây dựng cho phía đối tác không bắt buộc phải lập hợp đồng bằng văn bản mà có thể lập hợp đồng miệng.

Theo đó, căn cứ vào Điều 438 Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 438. Nghĩa vụ trả tiền

1. Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản.

2. Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Thì bên phía đối tác phải trả tiền cho bạn với số tiền là 10.500.000 đồng.

Đã đến kì hạn mà họ không trả hoặc bạn đã nhắn rất nhiều lần mà họ không trả đủ thì bạn nên kiện lên Tòa án để đảm bảo sự công bằng cho mình.

Hoặc bạn cũng có thể tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu việc này đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự: 
"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự.