Em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: 20 triệu hàng tháng sẽ trả cho em 6triệu, tháng đầu tiên anh chuyển cho em đúng số tiền đã thỏa thuận, đến tháng thứ 2 anh lại bảo cần 20 triệu nữa cho 1 vụ làm ăn mới là vận chuyển sữa, em đòi xem hợp đồng nhưng anh bảo sẽ cho em xem sau, chỗ quen biết nên em cũng đồng ý góp 20 triệu nữa, sau đó anh lại mượn em thêm 15 triệu và 5 triệu cũng với việc làm ăn như trên và đến bây giờ anh chưa trả cả vốn gốc lẫn tiền lời.

Nhiều lần em gọi điện đòi nợ nhưng anh đều nói sẽ cố gắng trả sớm, qua nhiều lần gặng hỏi anh mới khai thật là không làm ăn đúng như hợp đồng, mà trước đó anh đã làm ăn thua lỗ...như vậy em có tố cáo anh về tội cố tình lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Và em cần phải làm gì để có thể nhờ pháp luật can thiệp không?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.T.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới thư mục tư vấn của công ty luật Minh Khuê, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Nội dung tư vấn:

Điều 139 Bộ luật Hình sự quy định :

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm."

Có thể thấy cấu thành tội phạm của tội này như sau:

Thứ nhất, mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động …

Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
b) Dấu hiệu khác
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Thứ hai, khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Thứ ba,  mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Dựa trên những yếu tố này, bạn có thể xác định việc bên kia có bạn tội lừa đảo chiếm đoạt hay không.

Câu hỏi tiếp theo tôi xin trả lời như sau: để nhờ pháp luật can thiệp thì bạn phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc có thể thể hiện yêu cầu của mình trong đơn trình báo, hoặc do cơ quan điều tra ghi nhận yêu cầu của bạn qua lời trình bày về thiệt hại do tội phạm gây ra và có yêu cầu bồi thường.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.