Em nhận thấy mình đã bị lừa xin việc và với số tiền lớn (460 triệu). Khi giao tiền thì có viết giấy ghi nhận nhưng em đã vô tình làm ướt tờ giấy đó nhưng cũng đã lưu giữ được bằng cách scans lại trước đó. Và ngày giao tiền thì em đến giao tại nhà của người đứng ra nhận xin việc (có mặt tất cả 6 người, ngoài em và người nhận tiền thì có 4 người khác, trong đó có 3 người thì là bạn thân quen với em), hôm đó em cũng có quay lại được video của việc viết giấy, thỏa thuận và nhận tiền. Em đã nói chuyện nhiều lần và muốn lấy lại tiền nhưng người ta cứ khất lần và dây dưa không chịu trả. Em muốn hỏi luật sư rằng với những chứng cớ hiện tại của em thì có thể làm đơn tố giác tội lừa đảo để em có thể lấy lại số tiền đã đưa được hay không, rất mong luật sư tư vấn giúp em. (Người nhận chạy việc cho e không phải là công chức, công việc chính chỉ là làm môi giới xin việc, em tin tưởng vì thực tế cũng đã xin được cho 02 trường hợp vào làm trong sân bay nên em mới tin tưởng).

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật Hình sựm của Công ty luật Minh Khuê.

                                    Có thể tố giác tội lừa đảo xin việc được không ?

                                        >> Luật sư tư vấn Luật Hình sự trực tuyến, gọi : 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 

Bộ luật dân sự năm 2005  

Bộ luật dân sự năm 2015 

Nội dung tư vấn:

Về hành vi "chạy việc" này có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó, dấu hiệu cơ bản của tội này chính là việc người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối  nhằm để chiếm đoạt tại sản của người khác. Dùng thủ đoạn ở đây có nghĩa là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Đối với trường hợp của bạn, người nhận "chạy việc" cho bạn nếu người đó không có khả năng lo việc cho bạn nhưng vẫn nhận chạy việc và nhận tiền của bạn nhằm chiếm đoạt tiền của bạn thì hành vi này sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngược lại, nếu họ có khả năng lo được, việc nhận tiền là hoàn toàn dựa trên khả năng của họ và họ hoàn toàn không có ý định lừa dối bạn để chiếm đoạt số tiền kia thì hành vi này không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, để xác định được người này có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn hay không thì cần căn cứ trực tiếp vào hành vi của người đó để xác định.

Về cách giải quyết trong trường hợp này:

Như đã trình bày ở trên, nếu trường hợp người nhận chạy việc cho bạn không có khả năng để xin việc mà chỉ là nói dối để nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn thì bạn có thể tố cáo người này với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp thứ hai: Khi người  này không có dấu hiệu của hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn. Đối với trường hợp này, do bạn và người này có viết giấy ghi nhận tiền nhưng nội dung của nó là xin việc một cách dễ dàng hơn bằng cách thức không chân chính  nên đây sẽ là giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 128 BLDS 2005:

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội  

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể  thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Bên cạnh đó, Điều 137 BLDS 2005 cũng quy định về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Theo đó, để lấy lại được số tiền trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu. Sau khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu thì các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận tức người nhận xin việc kia sẽ phải trả lại cho bạn số tiền đã nhận.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

 Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự.