1. Cố ý gây thương tích 13% có bắt buộc phải ngồi tù ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: tôi có vay nợ 10 triệu sau 1 năm tôi bị tính lãi thành 30 triệu. tôi chưa có tiền trả, và bị người cho vay đến nhà cầm dao chém gây thương tích 13% sức khỏe.

Tòa án xử ngày 11-12 -2013 với mức án 27 tháng từ treo như vậy đã thỏa đáng chưa? tôi không đồng ý với bản án của tòa. Vậy tôi có thể kiện cho người chém tôi phải đi tù được không.... mong cho tôi ý kiến..

tôi còn 15 ngày kháng án...rất mong sự phản hồi sớm

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: thai an

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê tư vấn như sau, căn cứ vào Bộ Luật hình sự 1999 thì:

1. Tòa an xét xử với mức 27 tháng từ treo như thế có thể chưa thỏa đáng vì:

- Tỷ lệ thương tích là 13% có thể là dùng hung khí nguy hiểm, thuê người khác gây thương tích.Ở đây có thể xử lý hình sự theo Khoản 2 Điều 104 BLHS thì sẽ bị xử phát tù từ 2 năm đến 7 năm.

2. Nếu như chưa đảm bảo quyền lợi thì bạn có thể gửi kháng cáo bản án lên tòa án về quyết định của tòa với mức hình phạt với bị cáo theo Điều 51 BLTTHS với lý do kháng cáo và các chứng cứ bổ sung.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

2. Tội cố ý gây thương tích và giữ tài sản trái phép theo quy định pháp luật ?

Xin chào luật sư. Em có một vài vấn đề mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Ngày 01- 12 - 2015. Khi em trên đường tham đi làm về đến điểm cầu Phao Đăng. Em xuống xe và mua vé quá cầu thì nhân viên ở đây chỉ thu tiền mà không đưa vé. Em liền thắc mắc và hỏi: "sao không cấp vé cho tôi" thì nhân viên cầu nói "không cần". Khi em đi qua bên kia cầu thuộc địa phận Huyện VB.

Em bị nhân viên cầu chặn Barie lại và hỏi em: "bên kia cầu mày thích sao". Thế rồi khoảng 7 đến 8 người là nhân viên cầu từ đâu lao vào giật kính cận của em rồi đánh tập thể. Sau một hồi em được mọi người can ngăn và đưa đi viên. Theo chuẩn đoán của bệnh viện Đa Khoa Huyện VB. Em bị Đa Chấn Thương và gẫy xương sườn số 4 bên trái. Em đã viết đơn kiện tập thể cán bộ nhân viên cầu phao cố ý gây thương tích cho em. Đơn em gửi ban công an Huyện VB. Em cũng yêu cầu được giám định thương tích. Nhưng không hiểu sao. Đến nay vụ việc của em vẫn không được giải quyết.

Và còn một việc vô lý hơn. Đó là trong khi xảy ra sự việc. Em có điều khiển phương tiện là xe máy thì công an huyện họ thu luôn, không lập biên bản hoặc có lập nhưng em không được đọc và được nhìn thấy biên bản. Và thu xe từ hôm 01-12 - 2015 đến giờ. Em xin nhấn mạnh là xe em không va chạm vào ai. Không va vào bất cứ vật gì gây nguy hại hay hủy hoại điều gì. Thế nhưng ban công an họ nói biển số lạ. Họ điều tra. Vì đây là phương tiện chính để em đi làm kiếm sống. Vậy mà họ giữ gần 2 tháng nay em không hiểu lý do. Và đã gần 2 tháng nay em không đi làm. Ảnh hưởng tới công việc của em rất nhiều. Và điều quan trọng là gây hoang mang cho gia đình em. Hơn thế nữa, ngày 28-12-2015, công an họ nói xe em là xe giả. Mặc dù em đã xuất trình đăng ký xe và giấy tờ mua bán xe. Thế rồi em cũng đã tìm đến chủ đứng tên đăng ký xe thì ban công an họ nói có thể họ có sai sót. Họ sẽ điều tra tiếp. Em thật sự không biết cái tiếp đó của họ đến bao giờ.

Vậy em kính mong tòa soạn tư vấn giúp em. Em xin cam đoan những gì em viết trên. Hoàn toàn là sự thật.

Nếu sai em xin hoàn toàn chịu chách nhiệm trước pháp luật. Em rất mong sớm nhận được hồi âm.

Em chân thành cảm ơn.

Người gửi :L.M.H.

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất: Về việc bạn đã viết đơn kiện tập thể cán bộ nhân viên cầu phao cố ý gây thương tích cho bạn, đơn của bạn đã được gửi ban công an huyện và yêu cầu giám định nhưng đến nay vụ việc của em vẫn không được giải quyết.

Thông tin mà bạn cung cấp không rõ rằng nên chúng tôi chưa thể xác định cán bộ nhân viên cầu phao có phạm tội hay không, do đó chưa thể kết luận được việc cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này.

Theo điều 104Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội cố ý gây thương tích như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

A) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

B) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

C) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

D) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

Đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

E) Có tổ chức;

G) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

H) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

I) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

K) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Nếu nhận thấy hành vi của cán bộ nhân viên cầu phao cấu thành tội phạm thì bạn có thể gửi đơn tố cáo theo quy định điều 101 BLTTHS 2003 cụ thể :

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.".

Bạn cần căn cứ vào quy định trên và thực tế tình huống của bạn để xem xét mình sẽ khởi kiện dân sự hay gửi đơn tố giác tội phạm để biết được các cơ quan chức năng đã làm đúng nghĩa vụ, trách nhiệm hay chưa.

Về việc giải quyết đơn của bạn

Chúng tôi chia làm 2 trường hợp :

- Trong trường hợp hành vi của cán bộ nhân viên cầu phao không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì theo khoản 3, điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì :

"Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết".

Trường hợp không đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng cơ quan công an không gửi là thực hiện chưa đúng quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp hành vi của cán bộ nhân viên cầu phao đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì thời hạn giải quyết một vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

+ Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự: Theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.

Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định như sau:

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn thời hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Hết thời hạn điều tra, cơ quan điều tra sẽ ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố.

+ Thời hạn truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát sẽ ra bản cáo trạng tuy tố bị can trước Tòa án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Thời hạn xét xử:

Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

Nếu qua điều tra có dấu hiệu tội phạm nhưng cơ quan công an không tiến hành khởi tố thì bạn có quyền:

"Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định tại Chương XXXV của Bộ luật này.".

Tuy nhiên, việc không được cơ quan chức năng thông báo về việc có khởi tố vụ án hay không là trái quy định của pháp luật.

Bạn có thể gửi đơn tới cơ quan công an yêu cầu cơ quan trả lời cụ thể về vụ việc của bạn. Trong trường hợp cơ quan trả lời mà bạn thấy không hợp lý, quyền lợi của bạn không được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì bạn có quyền viết đơn khiếu nại theo quy định của pháp luật. Cụ thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định tại điều 329 đến điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

"Điều 329. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Điều tra viên, Phó Thủ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan điều tra

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp phải xem xét, giải quyết. Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 330. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 331. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm phán, Phó Chánh án và Chánh án Toà án

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà án trước khi mở phiên tòa do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 332. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định tố tụng đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định đó giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng."

Thứ hai: Về việc tịch thu xe máy của bạn.

Khi sự việc xảy ra, công an huyện tiến hành tịch thu xe máy của bạn không lập biên bản hoặc có lập nhưng bạn không được đọc và được nhìn thấy biên bản mặc dù xe bạn không va chạm vào ai. Không va vào bất cứ vật gì gây nguy hại hay hủy hoại điều gì , việc tịch thu xe của bạn công an chỉ nói với lý do là biển số lạ, mặc dù bạn đã xuất trình đăng ký xe và giấy tờ mua bán xe.

Điều 81 quy định Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

Điều 81. Thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

1. Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận vào biên bản.

Như vậy, khi tịch thu xe máy của bạn, công an không lập biên bản hoặc có lập nhưng không cho bạn xem, không cho bạn ký vào biên bản là vi phạm quy trình xử phạt vi phạm hành chính.

Các trường hợp tạm giữ phương tiện giao thông được quy định như sau:

Điều 75 Nghị định 171/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

"1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 07 (bảy) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:

a) Điểm b Khoản 5; Điểm b, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 10 Điều 5;

b) Điểm b Khoản 5; Điểm b, Điểm e Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 6;

c) Điểm d Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 7;

d) Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 8 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;

đ) Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 16;

e) Khoản 3 Điều 17;

g) Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 19;

h) Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 21."

Về thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông được quy định như sau:

Tại Khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định:

“Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.”

Như vậy, việc giữ xe của bạn đến nay đã quá 2 tháng là vi phạm quy định của pháp luật.

Trong trường hợp nêu trên, ban không vi phạm quy định về giao thông nên sẽ không được tạm giữ xe của bạn vì lý do vi phạm quy định về điều khiển phương tiện. Còn trường hợp tịch thu do vi phạm hành chính thì phải thực hiện theo đúng trình tự, theo thông tin bạn cung cấp thì cơ quan công an huyện VB đã không làm đúng trình tự và bạn có thể làm đơn khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết vấn đề trên cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo thêm nội dung: Mức phạt hành chính với tội cố ý gây thương tích?

3. Tội cố ý gây thương tích: Đâm nhầm người khác thì có phải chịu tội ?

Thưa luật sư, Em có việc muốn được các anh chị giúp đỡ ạ. Vào ngày 23.3 em cùng với mấy người anh chị em, đang ngồi uống cafe trong quán. Thì bị 1 đối tượng đến và bất ngờ đâm vào mặt.

Sau đó e được đưa đi cấp cứu và phẫu thuật thẩm mỹ. Sau khi e trở về nhà 7 ngày sau e được công an xã mời ra làm việc. Thì được biết em bị đâm nhầm, đối tượng đâm em năm nay 17 tuôi. Và sau đó e xin được đi giám định thương tích thì công an kêu nếu e kiện thì mới cho đi. Sau đó 2 gia đình thỏa thuận và thống nhất tự giải quyết. Bên gia đình kia bồi thường tiền viện phí lần 1 cho em là 30trieu.

Bây giờ em đang đi phục hồi chức năng , vì phần mặt e bị liêt dây thần kinh số 7 và số 5. Bây giờ chi phí đã 15 triệu. Và bản thân e hết khả năng lo liệu được. Em yêu cầu bên gia đình kia chi trả thì họ cố ý thoát thác. Vậy thưa a chị e muốn hỏi. Bây giờ em nên làm gì. Và em có được kiện lại được không ạ ?

Xin cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Trước hết tôi chia sẻ với những mất mát mà bạn gặp phải. Đây có thể là vụ án hình sự cố ý gây thương tích, vụ án này phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại là bạn (nếu hành vi vi phạm bị khởi tố về khoản 1 Điều 104 Bộ Luật hình sự năm 1999), còn vào khoản 2, khoản 3 sẽ không phụ thuộc vào yêu cầu của bạn cơ quan điều tra vẫn tiến hành khởi tố.

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội danh này được quy định tại:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Thực tế như bạn nói thì cũng không phải là viện cớ này mà lấy tiền của họ, chẳng ai đổi sức khỏe, thương tật của mình để lấy tiền cả. Nếu như bạn nói thì có thể phía gia đình nguời gây ra lỗi cho bạn có ý thức chưa tốt. bạn tiếp tục đề nghị họ, nếu họ vẫn không thay đổi ý kiến bạn có thể làm đơn đề nghị cơ quan công an khởi tố vụ án. Trong qua trình giải quyết vụ án từ điều tra (công an), truy tố (viện kiểm sát), xét xử (Tòa án) nếu họ đã nhận ra sai trái của mình lúc đó bạn rút đơn cũng chưa muộn.

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay nội dung: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo luật hình sự

4. Tư vấn về tội phạm cố ý gây thương tích và mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Luật Minh Khuê tư vấn về tội phạm cố ý gây thương tích, đồng thời phân biệt hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người và hành vi giết người.

Tư vấn về tội phạm cố ý gây thương tích và mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ, tiêu chí nào để cơ quan giám định đưa ra kết luận giám pháp y về thương tích (15% hay 30%). Tại phiên tòa sơ thẩm yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích của bị hại có được không, thủ tục như thế nào?

Theo quy định tại Điều 159 Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội thì:

"Điều 159. Giám định bổ sung hoặc giám định lại

1. Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh những vấn đề mới liên quan đến những tình tiết của vụ án đã được kết luận trước đó.

2. Việc giám định lại được tiến hành khi có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định. Việc giám định lại phải do người giám định khác tiến hành.

3. Việc giám định bổ sung hoặc giám định lại được tiến hành theo thủ tục chung quy định tại các điều 155, 156, 157 và 158 của Bộ luật này."

Như vậy, dựa vào các tiêu chí người bị thiệt hại về sức khỏe như thế nào, các bộ phận cơ thể bị tổn thương, mức độ tổn thương....bằng kiến thức chuyên môn, phương tiện khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ để đưa ra kêt luận về tỉ lệ thương tật bị tổn hại là bao nhiêu phần trăm,.

Nếu có cơ sở về bản kết luận giám định không khách quan, hoặc có sự mâu thuẫn trong các kết luận giám định hoặc các căn cứ được quy định trong điều luật trên thì bạn có quyền yêu cầu giám định lại.

Thưa luật sư, xin hỏi: ở cạnh nhà tôi có gia đình hiện nay đang có một số vấn đề về giải quyết việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi cha mẹ. cụ thể hoàn cảnh như sau: gia đình có 2 cháu: hiện tại 01 cháu học lớp 9 01 cháu học lớp 12 (đủ 18 tuổi) cả 2 chị em cháu đang được một trung tâm bảo trợ ở tiếp nhận, nuôi dưỡng từ khi còn nhỏ, cậu cháu là người đã giám hộ để cho 2 cháu vào trung tâm hiện tại: cháu bé học lớp 9 bị trung tâm có ý kiến về việc trao trả cháu về gia đình và chính quyền xã, do không chịu sự giáo dục của trung tâm, đe dọa an toàn cho các trẻ khác tại trung tâm (đã có hành vi gây thương tích cho trẻ khác, phải đưa đi cấp cứu tại bệnh viện) tuy nhiên khi trung tâm trả về gia đình thì cậu cháu là người giám hộ không chịu tiếp nhận cháu, buộc trung tâm phải nhờ đến sự can thiệp của chính quyền xã. Vậy luật sư cho tôi hỏi, các bước tiếp nhận và trả trẻ của trung tâm về địa phương thì cần có những yêu cầu và thủ tục gì? Sau khi chính quyền xã tiếp nhận cháu về, nếu muốn đưa cháu vào trại giáo dưỡng hoặc một trung tâm khác thì cần những thủ tục gì, yêu cầu như thế nào? Nếu chị cháu đã đủ 18 tuổi thì trung tâm trả cả 2 chị em về địa phương và để chị là người bảo hộ và chăm sóc em đúng hay sai? Tôi rất mong được luật sư hồi đáp sớm nhất. trân trọng cảm ơn!

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 68/2008/NĐ-CP thì:

"Điều 6. Các trường hợp dừng nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội:

1. Trẻ em được nhận làm con nuôi hoặc được nhận nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật;

2. Người đủ 18 tuổi trở lên;

3. Người tàn tật đã phục hồi, người tâm thần đã ổn định bệnh tật;

4. Đối tượng tự nguyện khi hợp đồng không còn hiệu lực;

5. Đối tượng chết, mất tích theo quy định của pháp luật."

Như vậy, nếu thuộc vào 1 trong những trường hợp trên, trung tâm bảo trợ xã hội có thể trả hai người này về và dừng việc nuôi dưỡng. Tuy nhiên, phải được sự dồng ý của chị gái (trên 18 tuổi) về việc sẽ nuôi dưỡng các em, và chứng minh được thu nhập của mình có thể đảm bảo cuộc sống của các em.

Chào anh chị Em là sinh viên, trong một lần đi Vũng tàu xe máy có bị va quẹt vào 1 xe tải chạy cùng chiều,do xe tải tấp vào lề đột ngột không tính hiệu giao thông để tránh 1 xe máy ngược chiều khác. Lúc xảy ra tai nạn, xe tải và xe máy em chạy đúng làn đường,tốc độ và khoảng cách. Va chạm không gây thương tích cho em, nhưng xe em do kẹt gần bánh xe tải nên bị hư hỏng đầu xe nặng. Công an có đến làm việc và tạm giữ xe.Cho em hỏi trong trường hợp này xe tải có bồi thường cho xe em không? Và mức thỏa thuận bồi thường ntn thì hợp lý? Mong sớm nhận được câu trả lời ạ Chân thành cảm ơn

Theo quy định tại Điều 604, Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Hơn nữa Điều 608 Bộ luật hình sự quy định

"Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại."

Như vậy, để xác định được căn cứ bồi thường thiệt hại thì phải xác định được mức độ lỗi của phía bên kia. Nếu bên xe tải có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại, thì người điều khiển/chủ sở hữu chiếc xe tải có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại theo những thiệt hại trên thực tế như trên.

Ngoài ra, nếu trong biên bản xác định người điều khiển xe tải không có lỗi trong việc để xảy ra vi phạm, thì theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự người này vẫn có trách nhiệm bồi thưởng thiệt hại cho bạn dựa theo quy định:

"ĐIều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

..........

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Truy cứu hình sự: 1/ Con tôi đánh người gây thương tích tỉ lệ 41% bị khởi tố ở khung 3 điều 104 luật hình sự đúng hay sai? 2/ Nếu được giảm về khung 2 điều 104 luật hình sự tôi phải làm đơn gửi cơ quan nào?

Theo quy định tại Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm."

Như vậy, trong tường hợp này, con của bạn có hành vi cố ý gây thương tích mà tỷ lệ thương tật của nạn nhân 41% thì cần phải xem xét con bạn có 1 trong những tình tiết tăng nặng định khung tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều luật như trên hay không. Nếu muốn được chuyển sang khoản 2 của Điều luật, con bạn phải có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự hoặc các tình tiết giảm nhẹ khác được Thẩm phán thừa nhận. Vì vậy, nếu đã có bản án của Tòa án cấp sơ thẩm thì bạn phải làm đơn kháng cáo gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm để được giải quyết, trong đơn kháng cáo, bạn phải thể hiện được những tình tiết giảm nhẹ mà con bạn có để Tòa án xem xét giải quyết đơn kháng cáo này.

Trân trọng ./.

>> Tham khảo thêm nội dung: Hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

5. Người bị hại làm đơn bãi nại thì có bị truy cứu hình sự về tội cố ý gây thương tích?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trong một số trường hợp người bị hại và người cố ý gây thương tích cho người bị hại đã thỏa thuận và giải quyết ổn thỏa với nhau thì có thể không khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác hay không?

Người bị hại làm đơn bãi nại thì có bị truy cứu hình sự về tội cố ý gây thương tích?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

....

Từ quy định này có thể phân tích để xác định cấu thành tội cố ý gây thương tích như sau:

- Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe.

- Mặt khách quan: trong mặt khách quan của tội phạm sẽ có hành vi, hậu quả, mối quan hệ của hành vi và hậu quả.

Hành vi: Hành vi của tội cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, tác động đến sức khỏe của người khác gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác bao gồm các loại công cụ phương tiện có tính nguy hiểm cao như các loại vũ khí súng, dao, đao, kiếm, chất nổ...hay các công cụ khác như gạch đã, gậy, gộc,... Việc tấn công trực tiếp vào cơ thể của người bị hại gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho họ phải tác động vào các vị trí cơ thể không được coi là vị trí xung yếu nếu không thì hành vi đó có thể sẽ bị truy cứu về tội giết người. Các vị trí được coi là vị trí xung yếu trên cơ thể mà khi tấn công vào đó có thể sẽ tước đoạt tính mạng của người đó là: vùng đầu, vùng ngực, vùng cổ, vùng bụng....Mức độ nguy hiểm của hành vi được xác định dựa vào nhiều yếu tố như công cụ, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi; cường độ tấn công liên tục, dồn dập hay ngắt quãng; lực tác động của hành vi mạnh hay yếu, quyết liệt hay hời hợt; ngoài ra vị trí cơ thể bị tác động là vị trí nào,...căn cứ vào tất cả những yếu tố đó để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi.

Hậu quả: Hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thể hiện ở việc người bị hại có thương tật và thể hiện cụ thể ở tỷ lệ thương tật( tỷ lệ %) dẫn đến mất sức lao động.

Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả: hành vi gây thương tích phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả người bị hại bị thương tật, và tỷ lệ thương tật đó chỉ tính do chính hành vi vi phạm pháp luật đó gây ra, mà không tính những tổn thương đã có sẵn hoặc do các lý do khác mà không phải do hành vi đó gây ra.

- Chủ thể của tội phạm: là bất kỳ người nào đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm này. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi bị truy cứu về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị truy cứu về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thuộc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi đối với người thực hiện tội phạm này là lỗi cố ý, người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Như vậy người nào thực hiện hành vi như đã phân tích ở trên và gây hậu quả thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hành sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đối với tội phạm này, có hai trường hợp xảy ra như sau:

- Thứ nhất, nếu phạm tội thuộc khoản 1 điều này thì người phạm tội chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Theo đó người phạm tội thuộc khoản này khi gây thương tật hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 134 ( như dùng vũ khí, vật liệu nổ,...; có tổ chức; lượi dụng chức vụ, quyền hạn;...). Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự, tại Khoản 1 Điều 155 quy định: Chỉ khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 1 các Điều 134, 135...khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Như vậy, nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì người bị hại sẽ không bị khởi tố. Trường hợp này, hai bên có thể thỏa thuận tự giải quyết với nhau.

- Thứ hai, trường hợp người phạm tội thuộc các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 134 thì sẽ bị khởi tố mà không phụ thuộc vào việc người bị hại có yêu cầu hay không. Nghĩa là kể cả khi người bị hại có làm đơn yêu cầu cơ quan tố tụng không khởi tố vụ án hình sự đối với người đã thực hiện hành vi quy định tại các khoản này thì cơ quan có thẩm quyền vẫn sẽ khởi tố vụ án hình sự nếu có đầy đủ căn cứ để khởi tố theo quy định của pháp luật.

Như vậy, người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội thuộc Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Tư vấn hiệu lực truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích cho người khác ?

Xin chào các bạn. Tôi được biết đến công ty mình qua internet và rất tâm đắc với những tư vấn mà các bạn đưa ra với những tình huống đã nêu. Tôi có một việc mong được các bạn tư vấn như sau:

Vào năm 2005, bạn tôi (Trung) sn:1982 có cùng một bạn khác sang nhà bạn gái mới quen ở huyện bên cạnh chơi. Khi đó có bị thanh niên làng vây đánh. Khi thấy bạn bị đánh Trung đã lấy con dao của nhà (người con gái) và chém một thanh niên trong nhóm đánh 3 nhát. Công an huyện đã thụ lý giải quyết. Bị hại dị thương tật 13% sức khoẻ. Khi đó gia đình đã bồi thường bị hại ( cam kết không khiếu kiện) và lo lót cho bên công an, mọi chuyện ( theo phía công an báo lại) là đã xong xuôi. Hai nhà đã hoà giải qua lại với nhau từ đó tới nay.

Bạn tôi (Trung) đã về địa phương làm ăn từ đó tới nay. Hôm qua ngày 12/5 công an huyện ( nơi xảy ra vụ án) tới bắt Trung theo lệnh truy nã. Hiện tại Trung bị tạm giam. Gia đình không biết phải làm sao? Xin hỏi các bạn đối với tội cố ý gây thương tích như trên thì từ năm 2005 đến nay còn hiệu lục truy cứu TNHS không? Nếu đa ra quyết định truy nã mà người ta vẫn sinh sống và làm việc tại nhà vậy thì công an có vi phạm quy trình điều tra, truy nã không?

Rất chân thành cảm ơn và mong chờ hồi âm.

Tư vấn hiệu lực truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích cho người khác ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Chúng tôi được biết , vào năm 2005, Trung có cùng một bạn khác sang nhà bạn gái mới quen ở huyện bên cạnh chơi. Khi đó có bị thanh niên làng vây đánh, thấy bạn bị đánh nên Trung đã lấy con dao của nhà bạn gái và chém một thanh niên trong nhóm đánh 3 nhát. Công an huyện đã thụ lý giải quyết. Bị hại dị thương tật 13% sức khoẻ. Khi đó gia đình đã bồi thường người bị hại và họ cam kết không khiếu kiện , sau đó lo lót cho bên công an, mọi chuyện ( theo phía công an báo lại) là đã xong xuôi. Hai nhà đã hoà giải qua lại với nhau từ đó tới nay. Trung đã về địa phương làm ăn từ đó tới nay. Hôm qua ngày 12/5 công an huyện ( nơi xảy ra vụ án) tới bắt Trung theo lệnh truy nã. Hiện tại Trung bị tạm giam. Trường hợp của Trung chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, Hành vi của Trung thuộc những hành vi vi phạm pháp luật, cố ý gây thương tích cho người khác và được quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

" 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Như vậy, Trung đã có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác cụ thể người bị hại thương tật 13% sức khỏe nên thuộc Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Thứ hai, Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy địng Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

" 1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ."

Như vậy, cần xét hành vi của Trung thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ góc độ bạn cho chúng tôi biết Trung không phải thuộc đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật từ trước đến nay, hành vi vi phạm này xảy ra trong tình huống chỉ là tự vệ nên sẽ thuộc hành vi ít nghiêm trọng , cũng chưa xảy ra án mạng và 2 bên cũng thỏa thuận bồi thường. Tính từ năm 2005 đến nay là gần 10 năm nên đã quá thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội ít nghiêm trọng nên Công an huyện truy nã đối với Trung là không đúng vì khi hết thời hạn truy nã thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu nữa.

Mặt khác , mặc dù Trung gây thương tích cho đối phương nhưng 2 bên gia đình đã đồng ý thương lượng với nhau để giải quyết vấn đề, bên bị hai cũng đã đồng ý không khiếu kiện. Vì vậy anh bạn chỉ bị khởi kiện nếu người bị hại khởi kiện và không bị khởi kiện nếu người bị hại có đơn bãi nại đối với vụ việc này. Trường hợp phía Công an vẫn yêu cầu khởi tố , ra lệnh truy nã Trung là sai. Theo quy định quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự, thì vụ án về tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 chỉ được khởi kiện khi có yêu cầu của người bị hại hoặc gia đình ( người đại diện hợp pháp) nếu người bị hại là người chưa thành niên.

Thứ ba , Truy nã đối tượng.

Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã quy định Đối tượng bị truy nã bao gồm :

+ Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu.

+ Người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn.

+ Người bị kết án phạt tù bỏ trốn.

+ Người bị kết án tử hình bỏ trốn.

+ Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn.

Mặt khác, theo Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC Ra quyết định truy nã như sau:

"1. Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đủ căn cứ xác định đối tượng quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;

b) Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.

2. Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã."

Như vậy, Theo quy định của pháp luật hiện hành ,Công an huyện đưa ra quyết định truy nã là sai quy định bởi lẽ Trung không thuộc đối tượng bị truy nã vì Trung vẫn sinh sống và làm việc tại nhà, hơn nữa cũng chưa bị khởi kiện trước đó vì hai bên đã thỏa thuận và lo lót cho phía Công an. Nếu phía Công an đưa ra quyết định truy nã thì quyết định đó phải thỏa mãn điều kiện tại Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC thì mới thỏa mãn nếu không thỏa mãn điều kiện đó thì lệnh truy nã này hoàn toàn vô hiệu.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê