1. Cố ý gây thương tích 13% có bắt buộc phải ngồi tù?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: tôi có vay nợ 10 triệu sau 01 năm tôi bị tính lãi thành 30 triệu. Tôi chưa có tiền trả, và bị người cho vay đến nhà cầm dao chém gây thương tích 13% sức khỏe.

Tòa án xử ngày 11-01-2019 với mức án 27 tháng từ treo như vậy đã thỏa đáng chưa? Tôi không đồng ý với bản án của tòa. Vậy tôi có thể kiện cho người chém tôi phải đi tù được không. Mong cho tôi ý kiến. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê!

Người gửi: Thai An

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tòa án xét xử với mức 27 tháng từ treo như thế có thể chưa thỏa đáng vì:

- Tỷ lệ thương tích là 13% có thể là dùng hung khí nguy hiểm, thuê người khác gây thương tích. Ở đây có thể xử lý hình sự theo Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì sẽ bị xử phát tù từ 02 năm đến 06 năm.

Nếu như chưa đảm bảo quyền lợi thì bạn có thể gửi kháng cáo bản án lên tòa án về quyết định của tòa với mức hình phạt với bị cáo theo Điều 331 và Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 với lý do kháng cáo và các chứng cứ bổ sung.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

2. Tội cố ý gây thương tích và giữ tài sản trái phép theo quy định pháp luật?

Xin chào luật sư. Em có một vài vấn đề mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Ngày 01- 12 - 2018. Khi em trên đường tham đi làm về đến điểm cầu Phao Đăng. Em xuống xe và mua vé qua cầu thì nhân viên ở đây chỉ thu tiền mà không đưa vé. Em liền thắc mắc và hỏi: "Sao không cấp vé cho tôi" thì nhân viên cầu nói "không cần". Khi em đi qua bên kia cầu thuộc địa phận Huyện VB.

Em bị nhân viên cầu chặn Barie lại và hỏi em: "Bên kia cầu mày thích sao". Thế rồi khoảng 7 đến 8 người là nhân viên cầu từ đâu lao vào giật kính cận của em rồi đánh tập thể. Sau một hồi em được mọi người can ngăn và đưa đi viện. Theo chuẩn đoán của bệnh viện Đa Khoa Huyện VB. Em bị đa chấn thương và gẫy xương sườn số 4 bên trái. Em đã viết đơn kiện tập thể cán bộ nhân viên cầu phao cố ý gây thương tích cho em. Đơn em gửi ban công an Huyện VB. Em cũng yêu cầu được giám định thương tích. Nhưng không hiểu sao. Đến nay vụ việc của em vẫn không được giải quyết.

Và còn một việc vô lý hơn. Đó là trong khi xảy ra sự việc. Em có điều khiển phương tiện là xe máy thì công an huyện họ thu luôn, không lập biên bản hoặc có lập nhưng em không được đọc và được nhìn thấy biên bản. Và thu xe từ hôm 01-12 - 2018 đến giờ. Em xin nhấn mạnh là xe em không va chạm vào ai. Không va vào bất cứ vật gì gây nguy hại hay hủy hoại điều gì. Thế nhưng ban công an họ nói biển số lạ. Họ điều tra. Vì đây là phương tiện chính để em đi làm kiếm sống. Vậy mà họ giữ gần 2 tháng nay em không hiểu lý do. Và đã gần 2 tháng nay em không đi làm. Ảnh hưởng tới công việc của em rất nhiều. Và điều quan trọng là gây hoang mang cho gia đình em. Hơn thế nữa, ngày 28-12-2018, công an họ nói xe em là xe giả. Mặc dù em đã xuất trình đăng ký xe và giấy tờ mua bán xe. Thế rồi em cũng đã tìm đến chủ đứng tên đăng ký xe thì ban công an họ nói có thể họ có sai sót. Họ sẽ điều tra tiếp. Em thật sự không biết cái tiếp đó của họ đến bao giờ.

Vậy em kính mong tòa soạn tư vấn giúp em. Em xin cam đoan những gì em viết trên. Hoàn toàn là sự thật.

Nếu sai em xin hoàn toàn chịu chách nhiệm trước pháp luật. Em rất mong sớm nhận được hồi âm.

Em chân thành cảm ơn.

Người gửi :L.M.H.

Trả lời:

Thứ nhất: Về việc bạn đã viết đơn kiện tập thể cán bộ nhân viên cầu phao cố ý gây thương tích cho bạn, đơn của bạn đã được gửi ban công an huyện và yêu cầu giám định nhưng đến nay vụ việc của em vẫn không được giải quyết.

Thông tin mà bạn cung cấp không rõ rằng nên chúng tôi chưa thể xác định cán bộ nhân viên cầu phao có phạm tội hay không, do đó chưa thể kết luận được việc cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này.

Theo Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội cố ý gây thương tích như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

..."

Nếu nhận thấy hành vi của cán bộ nhân viên cầu phao cấu thành tội phạm thì bạn có thể gửi đơn tố cáo theo quy định Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cụ thể:

"Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật."

Bạn cần căn cứ vào quy định trên và thực tế tình huống của bạn để xem xét mình sẽ khởi kiện dân sự hay gửi đơn tố giác tội phạm để biết được các cơ quan chức năng đã làm đúng nghĩa vụ, trách nhiệm hay chưa.

Về việc giải quyết đơn của bạn:

+ Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự: Theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.

Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định như sau:

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn thời hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Hết thời hạn điều tra, cơ quan điều tra sẽ ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố.

+ Thời hạn truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát sẽ ra bản cáo trạng tuy tố bị can trước Tòa án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Thời hạn xét xử:

Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

Nếu qua điều tra có dấu hiệu tội phạm nhưng cơ quan công an không tiến hành khởi tố thì bạn có quyền khiếu nại hành vi không khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật. Việc không được cơ quan chức năng thông báo về việc có khởi tố vụ án hay không là trái quy định của pháp luật.

Bạn có thể gửi đơn tới cơ quan công an yêu cầu cơ quan trả lời cụ thể về vụ việc của bạn. Trong trường hợp cơ quan trả lời mà bạn thấy không hợp lý, quyền lợi của bạn không được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì bạn có quyền viết đơn khiếu nại theo quy định của pháp luật. Cụ thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định tại Điều 475 đến Điều 483 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Thứ hai: Về việc tịch thu xe máy của bạn.

Khi sự việc xảy ra, công an huyện tiến hành tịch thu xe máy của bạn không lập biên bản hoặc có lập nhưng bạn không được đọc và được nhìn thấy biên bản mặc dù xe bạn không va chạm vào ai. Không va vào bất cứ vật gì gây nguy hại hay hủy hoại điều gì, việc tịch thu xe của bạn công an chỉ nói với lý do là biển số lạ, mặc dù bạn đã xuất trình đăng ký xe và giấy tờ mua bán xe.

Khoản 1 Điều 81 quy định Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

"Điều 81. Thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

1. Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận vào biên bản."

Như vậy, khi tịch thu xe máy của bạn, công an không lập biên bản hoặc có lập nhưng không cho bạn xem, không cho bạn ký vào biên bản là vi phạm quy trình xử phạt vi phạm hành chính.

Về thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông được quy định như sau:

Tại Khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định:

"Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này."

Như vậy, việc giữ xe của bạn đến nay đã quá 2 tháng là vi phạm quy định của pháp luật.

Trong trường hợp nêu trên, bạn không vi phạm quy định về giao thông nên cơ quan công an sẽ không được tạm giữ xe của bạn vì lý do vi phạm quy định về điều khiển phương tiện. Còn trường hợp tịch thu do vi phạm hành chính thì phải thực hiện theo đúng trình tự, theo thông tin bạn cung cấp thì cơ quan công an huyện VB đã không làm đúng trình tự và bạn có thể làm đơn khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết vấn đề trên cho bạn.

>> Tham khảo thêm nội dung: Mức phạt hành chính với tội cố ý gây thương tích?

3. Tội cố ý gây thương tích: Đâm nhầm người khác thì có phải chịu tội?

Thưa luật sư, em có việc muốn được các anh chị giúp đỡ ạ. Vào ngày 23/01 em cùng với mấy người anh chị em, đang ngồi uống cafe trong quán. Thì bị một đối tượng đến và bất ngờ đâm vào mặt.

Sau đó, em được đưa đi cấp cứu và phẫu thuật thẩm mỹ. Sau khi em trở về nhà 7 ngày sau em được công an xã mời ra làm việc. Thì được biết em bị đâm nhầm, đối tượng đâm em năm nay 17 tuổi. Và sau đó em xin được đi giám định thương tích thì công an kêu nếu em kiện thì mới cho đi. Sau đó 2 gia đình thỏa thuận và thống nhất tự giải quyết. Bên gia đình kia bồi thường tiền viện phí lần 1 cho em là 30 triệu.

Bây giờ em đang đi phục hồi chức năng, vì phần mặt em bị liệt dây thần kinh số 7 và số 5. Bây giờ, chi phí đã 15 triệu. Và bản thân em hết khả năng lo liệu được. Em yêu cầu bên gia đình kia chi trả thì họ cố ý thoát thác. Vậy em muốn hỏi: Bây giờ em nên làm gì? Và em có được kiện lại được không ạ? Xin cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Trước hết tôi chia sẻ với những mất mát mà bạn gặp phải. Đây có thể là vụ án hình sự cố ý gây thương tích, vụ án này phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại là bạn (nếu hành vi vi phạm bị khởi tố về khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), còn vào khoản 2, khoản 3 sẽ không phụ thuộc vào yêu cầu của bạn cơ quan điều tra vẫn tiến hành khởi tố theo Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

"Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Thực tế như bạn nói thì cũng không phải là viện cớ này mà lấy tiền của họ, chẳng ai đổi sức khỏe, thương tật của mình để lấy tiền cả. Nếu như bạn nói thì có thể phía gia đình người gây ra lỗi cho bạn có ý thức chưa tốt. Bạn tiếp tục đề nghị họ, nếu họ vẫn không thay đổi ý kiến bạn có thể làm đơn đề nghị cơ quan công an khởi tố vụ án. Trong qua trình giải quyết vụ án từ điều tra (công an), truy tố (viện kiểm sát), xét xử (Tòa án) nếu họ đã nhận ra sai trái của mình lúc đó bạn rút đơn cũng chưa muộn, nếu thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

>> Tham khảo ngay nội dung: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo luật hình sự

4. Tư vấn về tội phạm cố ý gây thương tích và mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Truy cứu hình sự: Con tôi đánh người gây thương tích tỉ lệ 41% bị khởi tố ở khoản 3 Điều 134 luật hình sự đúng hay sai? Nếu được giảm về khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự tôi phải làm đơn gửi cơ quan nào? Xin cảm ơn!

Tư vấn về tội phạm cố ý gây thương tích và mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, theo đó, trong tường hợp này, con của bạn có hành vi cố ý gây thương tích mà tỷ lệ thương tật của nạn nhân 41% bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 134. Do đó, muốn chuyển sang khoản 2 Điều 134 thì bạn cần phải xem xét con bạn có một trong những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 bao gồm:

- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

- Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

- Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

- Có tính chất côn đồ;

- Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Nếu muốn được chuyển sang khoản 2 của Điều luật, con bạn phải có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc các tình tiết giảm nhẹ khác được Thẩm phán thừa nhận. Đồng thời, con bạn không thuộc các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, nếu đã có bản án của Tòa án cấp sơ thẩm thì bạn phải làm đơn kháng cáo gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm để được giải quyết, trong đơn kháng cáo, bạn phải thể hiện được những tình tiết giảm nhẹ mà con bạn có để Tòa án xem xét giải quyết đơn kháng cáo này.

>> Tham khảo thêm nội dung: Hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

5. Người bị hại làm đơn bãi nại thì có bị truy cứu hình sự về tội cố ý gây thương tích?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trong một số trường hợp người bị hại và người cố ý gây thương tích cho người bị hại đã thỏa thuận và giải quyết ổn thỏa với nhau thì có thể không khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác hay không?

Người bị hại làm đơn bãi nại thì có bị truy cứu hình sự về tội cố ý gây thương tích?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, từ quy định này có thể phân tích để xác định cấu thành tội cố ý gây thương tích như sau:

- Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe.

- Mặt khách quan: trong mặt khách quan của tội phạm sẽ có hành vi, hậu quả, mối quan hệ của hành vi và hậu quả.

+ Hành vi: Hành vi của tội cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, tác động đến sức khỏe của người khác gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác bao gồm các loại công cụ phương tiện có tính nguy hiểm cao như các loại vũ khí súng, dao, đao, kiếm, chất nổ...hay các công cụ khác như gạch đã, gậy, gộc,... Việc tấn công trực tiếp vào cơ thể của người bị hại gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho họ phải tác động vào các vị trí cơ thể không được coi là vị trí xung yếu nếu không thì hành vi đó có thể sẽ bị truy cứu về tội giết người. Các vị trí được coi là vị trí xung yếu trên cơ thể mà khi tấn công vào đó có thể sẽ tước đoạt tính mạng của người đó là: vùng đầu, vùng ngực, vùng cổ, vùng bụng....Mức độ nguy hiểm của hành vi được xác định dựa vào nhiều yếu tố như công cụ, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi; cường độ tấn công liên tục, dồn dập hay ngắt quãng; lực tác động của hành vi mạnh hay yếu, quyết liệt hay hời hợt; ngoài ra vị trí cơ thể bị tác động là vị trí nào,...căn cứ vào tất cả những yếu tố đó để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi.

+ Hậu quả: Hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thể hiện ở việc người bị hại có thương tật và thể hiện cụ thể ở tỷ lệ thương tật( tỷ lệ %) dẫn đến mất sức lao động.

+ Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả: hành vi gây thương tích phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả người bị hại bị thương tật, và tỷ lệ thương tật đó chỉ tính do chính hành vi vi phạm pháp luật đó gây ra, mà không tính những tổn thương đã có sẵn hoặc do các lý do khác mà không phải do hành vi đó gây ra.

- Chủ thể của tội phạm: là bất kỳ người nào đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm này. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi bị truy cứu về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị truy cứu về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thuộc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi đối với người thực hiện tội phạm này là lỗi cố ý, người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Như vậy, người nào thực hiện hành vi như đã phân tích ở trên và gây hậu quả thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hành sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đối với tội phạm này, có hai trường hợp xảy ra như sau:

Thứ nhất, nếu phạm tội thuộc khoản 1 điều này thì người phạm tội chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Theo đó người phạm tội thuộc khoản này khi gây thương tật hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 134 ( như dùng vũ khí, vật liệu nổ,...; có tổ chức; lượi dụng chức vụ, quyền hạn;...). Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tại Khoản 1 Điều 155 quy định: Chỉ khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 1 các Điều 134, 135... khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Như vậy, nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì người bị hại sẽ không bị khởi tố. Trường hợp này, hai bên có thể thỏa thuận tự giải quyết với nhau.

Thứ hai, trường hợp người phạm tội thuộc các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 134 thì sẽ bị khởi tố mà không phụ thuộc vào việc người bị hại có yêu cầu hay không. Nghĩa là kể cả khi người bị hại có làm đơn yêu cầu cơ quan tố tụng không khởi tố vụ án hình sự đối với người đã thực hiện hành vi quy định tại các khoản này thì cơ quan có thẩm quyền vẫn sẽ khởi tố vụ án hình sự nếu có đầy đủ căn cứ để khởi tố theo quy định của pháp luật.

Như vậy, người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội thuộc Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

6. Tư vấn hiệu lực truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích cho người khác?

Xin chào các bạn. Tôi được biết đến công ty mình qua internet và rất tâm đắc với những tư vấn mà các bạn đưa ra với những tình huống đã nêu. Tôi có một việc mong được các bạn tư vấn như sau:

Vào năm 2005, bạn tôi (Trung) sinh năm: 1982 có cùng một bạn khác sang nhà bạn gái mới quen ở huyện bên cạnh chơi. Khi đó có bị thanh niên làng vây đánh. Khi thấy bạn bị đánh, Trung đã lấy con dao của nhà (người con gái) và chém một thanh niên trong nhóm đánh 3 nhát. Công an huyện đã thụ lý giải quyết. Bị hại bị thương tật 13% sức khoẻ. Khi đó gia đình đã bồi thường bị hại (cam kết không khiếu kiện) và lo lót cho bên công an, mọi chuyện (theo phía công an báo lại) là đã xong xuôi. Hai nhà đã hoà giải qua lại với nhau từ đó tới nay.

Bạn tôi (Trung) đã về địa phương làm ăn từ đó tới nay. Ngày 28/01/2019 công an huyện (nơi xảy ra vụ án) tới bắt Trung theo lệnh truy nã. Hiện tại, Trung bị tạm giam. Gia đình không biết phải làm sao? Xin hỏi các bạn đối với tội cố ý gây thương tích như trên thì từ năm 2005 đến nay còn hiệu lực truy cứu trách nhiệm hình sự không? Nếu đưa ra quyết định truy nã mà người ta vẫn sinh sống và làm việc tại nhà vậy thì công an có vi phạm quy trình điều tra, truy nã không? Rất chân thành cảm ơn và mong chờ hồi âm.

Tư vấn hiệu lực truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích cho người khác ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chúng tôi được biết, vào năm 2005, Trung có cùng một bạn khác sang nhà bạn gái mới quen ở huyện bên cạnh chơi. Khi đó, có bị thanh niên làng vây đánh, thấy bạn bị đánh nên Trung đã lấy con dao của nhà bạn gái và chém một thanh niên trong nhóm đánh 3 nhát. Công an huyện đã thụ lý giải quyết. Bị hại bị thương tật 13% sức khoẻ. Khi đó gia đình đã bồi thường người bị hại và họ cam kết không khiếu kiện. Hai nhà đã hoà giải qua lại với nhau từ đó tới nay. Trung đã về địa phương làm ăn từ đó tới nay. Hôm qua ngày 28/01/2019 công an huyện (nơi xảy ra vụ án) tới bắt Trung theo lệnh truy nã. Hiện tại Trung bị tạm giam. Trường hợp của Trung chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, hành vi của Trung thuộc những hành vi vi phạm pháp luật, cố ý gây thương tích cho người khác và được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, theo đó, Trung đã có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác cụ thể người bị hại thương tật 13% sức khỏe nên thuộc Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

Thứ hai, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

"1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ."

Như vậy, cần xét hành vi của Trung thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ góc độ bạn cho chúng tôi biết Trung không phải thuộc đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật từ trước đến nay, hành vi vi phạm này xảy ra trong tình huống chỉ là tự vệ nên sẽ thuộc hành vi ít nghiêm trọng , cũng chưa xảy ra án mạng và 2 bên cũng thỏa thuận bồi thường. Tính từ năm 2005 đến nay là hơn 10 năm nên đã quá thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng nên Công an huyện truy nã đối với Trung là không đúng vì khi hết thời hạn truy nã thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu nữa.

Mặt khác, mặc dù Trung gây thương tích cho đối phương nhưng 2 bên gia đình đã đồng ý thương lượng với nhau để giải quyết vấn đề, bên bị hại cũng đã đồng ý không khiếu kiện. Vì vậy, Trung chỉ bị khởi kiện nếu người bị hại khởi kiện và không bị khởi kiện nếu người bị hại có đơn bãi nại đối với vụ việc này. Trường hợp phía Công an vẫn yêu cầu khởi tố, ra lệnh truy nã Trung là sai. Theo quy định quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, thì vụ án về tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 chỉ được khởi kiện khi có yêu cầu của người bị hại hoặc gia đình ( người đại diện hợp pháp) nếu người bị hại là người chưa thành niên.

Thứ ba , truy nã đối tượng.

Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã quy định Đối tượng bị truy nã bao gồm:

+ Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu.

+ Người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn.

+ Người bị kết án phạt tù bỏ trốn.

+ Người bị kết án tử hình bỏ trốn.

+ Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn.

Mặt khác, theo Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ra quyết định truy nã như sau:

"1. Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đủ căn cứ xác định đối tượng quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;

b) Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.

2. Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã."

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, Công an huyện đưa ra quyết định truy nã là sai quy định bởi lẽ Trung không thuộc đối tượng bị truy nã vì Trung vẫn sinh sống và làm việc tại nhà, hơn nữa cũng chưa bị khởi kiện trước đó. Nếu phía Công an đưa ra quyết định truy nã thì quyết định đó phải thỏa mãn điều kiện tại Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC nêu trên thì mới thỏa mãn nếu không thỏa mãn điều kiện đó thì lệnh truy nã này hoàn toàn vô hiệu.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê