Do hoàn cảnh gia đình khó khăn cháu không có tiền tiếp tục theo học nên cháu phải nghỉ học từ sớm để làm kinh tế giúp gia đình. Cháu tôi phải làm rất nhiều việc để kiếm sống trong đó có làm muối, phụ hồ, đào vàng... trong quá trình đi làm kinh tế cháu tôi bị nghiện hút ma tuý. Gia đình không có tiền cho hút ngày 12/05/2015 cháu tôi đã ra đường dừng phương tiện xe máy của 1 người đi đường và để xin tiền. Người này có 70.000 đồng trong ví nhưng cháu tôi không lấy đòi lấy điện thoại. Nhưng người này không đưa và cháu tôi đã sử dụng típ sắt vụt vào mặt người bị hại nhưng không gây hậu quả gì cho người bị hại.
Gia đình phát hiện kịp thời và đã đưa cháu đến cơ quan công an để cơ quan công an giáo dục cháu giúp gia đình. Nhưng do tính chất của sự việc cháu bị bắt tạm giam ngày 12/05/2015.

Ngày 07/8/2015 toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ đưa cháu ra xét xử. Và tuyên phạt cháu 8 năm tù giam về tội cướp tài sản. Tôi nghĩ nếu cướp tài sản thì cháu chưa đạt được mục đích, và cháu đã chủ động đến cơ quan công an để trình báo sự việc.

Hiện nay đang trong thời gian kháng cáo, gia đình cũng chẳng biết nên kháng cáo theo hướng nào xin luật sư hướng dẫn để gia đình có hướng đi giúp nhẹ tội hơn.

Xin cảm ơn !

Người gửi: N.V.C

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự, công ty luật Minh Khuê

Cướp tài sản và những vấn đề liên quan ?

Tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 ;

Nội dung:

Điều 133 BLHS quy định:

"Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm." 

Tội cướp tài sản là tội có cấu thành tội phạm hình thức, tức là chỉ cần có hành vi xảy ra, không cần có hậu quả thực tế thì tội phạm đã hoàn thành.

Do đó, trong trường hợp của cháu bạn, tội phạm đã hoàn thành.

Điều 46 BLHS quy định:

"Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái  pháp luật của người bị hại hoặc  người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h)  Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc  công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ  trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt."

Tội phạm đã hoàn thành, để được giảm mức án, gia đình có thể kháng cáo theo hướng có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhằm xin giảm mức án xuống.

Trên đây là thông tin để cá nhân và tổ chức tham khảo, mọi thắc mắc liên hệ: 1900.6162

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.