Anh ấy chỉ nói là đầu tư tài chính, gần như là kiểu cho vay nặng lãi, anh ấy lấy danh dự ra để đảm bảo và khẳng định đó là đầu tư tài chính chứ hoàn toàn không phải đa cấp, nghe cũng thấy bùi tai nên em tham gia theo lời anh ý, sau khi chuyển tiền vào tài khoản anh ý (có giấy chuyển khoản) thì em được cấp 1 ID và mật khẩu vào hệ thống, ngay sau đấy nửa tháng thì hệ thống báo lỗi và không đăng nhập được nữa, mọi việc vỡ lở rồi mọi người mới biết anh ấy nhận của những người khác tổng số tiền hơn 4 tỷ đồng. Giờ anh ấy chối bay chối biến mọi việc, nói là anh ấy cũng là nạn nhân. Trong trường hợp này những người bị hại có thể kiện anh ấy tội chiếm đoạt tài sản không ạ, có cách nào để chúng em lấy lại tiền không ạ, Chúng em đã trình báo công an nhưng nửa năm rồi vẫn không có động tĩnh gì, mọi việc đang dần bị quên lãng, chỉ có những người bị hại là vẫn đang chờ đợi phía công an nhưng em nghĩ sẽ không có kết quả gì. Em mong anh chị tư vấn giúp em với ạ.

Em xin chân thành cảm ơn ạ!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

- Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009

2. Nội dung tư vấn:

Vì thông tin bạn cung cấp chưa rõ, hành vi và mục đích của người này chưa rõ ràng, vì thế chúng tôi chia ra hai trường hợp:

Thứ nhất, nếu anh này đưa thông tin giả cho bạn và những người khác để các bạn tin rằng anh ý đem cho vay nặng lãi thật nhưng cuối cùng anh này dùng để tẩu thoát hoặc với mục đích khác thì hành vi này của anh ý sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt  hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"

Do đó, nếu anh này bằng những lời lẽ của mình lừa dối các bạn rằng lấy tiền để đem vay nặng lãi nhưng thực chất không phải như vậy nhằm chiếm đoạt được số tiền đó, kết hợp với giá trị số tiền chiếm đoạt được nên hành vi này cấu thành tôị lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Thứ hai, anh này lấy số tiền hơn 4 tỷ để đi cho vay nặng lãi theo đúng như lời anh này nói với mọi người

Đối với trường hợp hai này, anh này sẽ bị truy cứu tội danh là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này"

Lạm dụng tín nhiệm thì hành vi gian dối là nhằm chiếm đoạt tài sản sau khi tài sản đã thuộc quyền kiểm soát của mình và được người bị hại trao cho một cách tự nguyện thông qua hợp đồng. Anh này đã lợi dụng lòng tin của mọi người vì đã quen biết để sử dụng mục đích khác với mục đích đem cho vay nặng lãi. Hành vi này sẽ bị truy cứu về tội lạm dụng tin nhiếm chiếm đoạt tài sản

Tuy nhiên, về chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mọi người sẽ tùy thuộc vào bên phía cơ quan điều tra làm rõ, liệu giấy chuyển khoản đó có đủ làm căn cứ để truy cứu hành vi phạm tội, có thể đưa ra kết luận chính xác nhất

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự.