Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật dân sự năm 2015 

Bộ luật hình sự năm 2015

Nội dung tư vấn:

Toi bi mất thẻ ATM ,và mất tiền do người nhặt được rút hết 71 triệu đồng .Đã báo công an và tìm được ngườ rút , người này đã chấp nhận là chính họ đã rút hết tiền của tôi và giao nộp thẻ cho công an và hứa khắc phhục hậu quả , Như vậy người nà có bị truy cứu hình sự không ?

Hành vi của người này đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm c1 khoản 2 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009.

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Việc người này đã trả lại số tiền chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, còn tội phạm đã cấu thành và người này vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 221 Bộ luật Hình sự 2015 điều chỉnh cho người làm kế toán hay điều chỉnh cho mọi đối tượng có chức vụ quyền hạn(giám đốc hoặc hiệu trưởng...vv...) vi phạm liên quan về vấn đề kê khai,kế toán? Được gửi từ Email của OPPO

Điều 221 BLHS 2015 quy định:

Điều 221. Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán;

b) Dụ dỗ, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật;

c) Để ngoài sổ kế toán tài sản của đơn vị kế toán hoặc tài sản liên quan đến đơn vị kế toán;

d) Hủy bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước thời hạn lưu trữ quy định của Luật kế toán;

đ) Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên nhằm bỏ ngoài sổ kế toán tài sản, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị kế toán.

Như vậy, chủ thể của tội phạm này không nhất thiết phải là kế toán mà là bất cứ người nào có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn đó để vi phạm.

Mọi trường hợp đủ từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do mình gây ra. Điều này đúng hay sai? Vì sao? Lấy ví dụ minh hoạ? Nhờ luật sư giải đáp giúp em, cảm ơn luật sự!

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS thì Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy, có thể hiểu khẳng định của bạn đưa ra là đúng theo quy định trên.

Ví dụ: A 15 tuổi có hành vi giết người (khoản 1 Điều 93). A phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

xin chào công ty luât minh khê tôi có môt vấn đề xin được tư vấn giúp là tôi có tham gia giao thông và đi ngược chiều thì giặp phải một bà lão 94 tuoi đi băng qua đuờng bà lão sợ quá tự té xuống đường bị bể xương chậu hiện tại bà nằm một chổ không đi lại được nữa.tôi và gia đình bị nạn có thương lượng để bồi thường nhưng không được.bây giờ họ muốn kiện ra tòa thì có được không lúc sảy ra chuyện thì hai bên không báo công an đến lạp biên bản và khi xuống cấp cứu thì cũng khai với bác sĩ là bà tự ngã.và nếu ra tòa tôi phải bồi thường bao nhiu và có phải chịu trách nhiệm hình sự gì không

Trường hợp của bạn điều khiển phương tiện giao thông đi ngược chiều và gây thiệt hại có dấu hiệu của tội sau theo quy định BLHS:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọngcho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

- Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: 

a. Làm chết một người; 

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; 

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; 

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Như vậy, nếu cơ quan công an giám định thương tật của bà lão này từ 31% trở lên thì bạn có thể bị truy cứu TNHS, còn dưới 31% thì không bị truy cứu TNHS.

Tuy nhiên, dù bị truy cứu TNHS hay không thì bạn vẫn phải bồi thường thiệt hại nếu bên thiệt hại có yêu cầu. Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy, căn cứ quy định trên, 2 bên thỏa thuận mức bôi thường thỏa đáng.

thưa luật sư tôi muốn nhờ luật sư tư vấn một việc như sau: phòng tôi có bị mất 1 macbook pro 2015 trị giá ban đầu 1500$ sử dụng được 10 tháng, bảo vệ kĩ càng và 1 cây CPU trị giá ban đầu 11 triệu đồng, nhưng bên phía gia đình của bị cáo bồi thường không thỏa đáng với chúng tôi là macbook 10 triệu và cây CPU 2 triệu đồng và tôi không đồng ý. Nay tôi muốn hỏi liệu sau này ra tòa tôi có thể đề nghị nhận được đền bù thỏa đáng như tôi muốn hay không? Và phía công an tư vấn là tôi nên nhận trước 10 triệu đồng sau này ra tòa tôi sẽ yêu cầu thêm. Nay tôi rất hoang mang nhờ luật sư tư vấn giúp tôi sự việc trên. Xin chân thành cảm ơn luật sư. Tôi mong nhận được phản hồi sớm nhất của luật sư.

Trường hợp của bạn khi không đồng ý với mức đền bù như vậy, trước tiên bạn có thể thỏa thuận với bên gia đình bị cáo, nếu không thỏa thuận được, bạn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.Tòa án sẽ căn cứ trên các thông tin, chứng cứ bạn cung cấp được về thiệt hại thực tế và ấn định mức bồi thường hợp lý cho bạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng   để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê