Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999, được sửa đổi bổ sung 2009

Nội dung tư vấn:

chào luật sự cho em hỏi cách để viết đơn kiện về hành vi xúc phạm danh dự của người khác trên mạng xã hội với ạ. Chuyện là em bị vợ của người yêu cũ đăng những tin k hay lên mạng xã hội. trong khi chúng e chia tay đã hơn năm rưỡi. k liên lạc gì, gần đây nyc em mới kết hôn. em k hiểu chuyện hôn nhân của họ ra sao. nhưng lại lôi em vào chuyện nầy. rồi cho em là cướp chồng. rồi đăng những cái hủy hoại em. vùi dập em. em đã lên tiếng nhưng vãn đăng nhiều hơn. đăng lien tục kéo dài hơn tháng nay rồi mà bây giờ vẫn còn ạ. thưa luật sư bây giờ em phải làm sao. em k thể chịu oan uât được nữa

Điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ–CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, quy định:

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

Do đó, việc cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.00 đồng.

Trong trường hợp người nhắn tin bôi nhọ có hành vi cố ý xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì có thể phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung:

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ đến ba năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Ngoài ra, người có hành vi cố ý bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có thể phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội Vu khống theo Điều 122 Bộ luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung:

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó, người phạm tội này có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Nếu phạm tội nhiều lần hoặc đối với nhiều người có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Do đó, để ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn cần lưu lại các tin nhắn, bình luận có nội dung xúc phạm nhân phẩm, bôi nhọ thanh danh để làm chứng cứ. Sau đó, bạn có thể báo cáo sự việc lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để xử lý vi phạm hành chính hoặc báo cho Cơ quan công an cấp quận/huyện để cơ quan này xem xét, tiến hành điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm pháp luật.

Cho em hỏi Em người quen đi tù 3 năm tội cướp giật.khi ra tù muốn để mọi người không biết thì xoá án tích được không ạh.vì muốn đi xin vào công ty làm lại..luật sự cho em biết ý kiến với ạh

Quy định về xóa án tích tại BLHS như sau:

Điều 65. Xoá án tích theo quyết định của Toà án

1. Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án trong các trường hợp sau đây:

a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

2. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích.

Như vậy, trong 03 năm sau khi chấp hành xong bản án, nếu bạn không phạm tội mới thì có thể làm đơn xin xóa án tích.

Vào ngày 18.11.2016. Do quen biết với gia đình vợ tôi, một người tên Đ ( tôi không biết họ tên đầy đủ) do là người làm chung với vợ tôi sang nhà gia đình vợ tôi chơi, đến khoảng 20h00 anh ta ra về vợ tôi ra tiễn lợi dụng trời tối anh ta bóp cổ vợ tôi, đánh vợ tôi cướp sợi dây chuyền bằng vàng trị giá hơn 5 triệu đồng, rồi bỏ về nhà. Dc nhà a ta tôi biết, sau khi nhận đuợc tin báo tôi về gia đình vợ tôi, du tôi đã cố gắng liên hệ với anh ta qua so điện thoai di dộng nhưng không đuợc vì anh ta khóa máy. Nay vợ chồng tôi muốn làm đơn kiên anh ta về tội cướp tài sản thì có đuợc không, và nếu đơn tôi chỉ ghi tên anh và địa chỉ nhà có đuợc không vi tôi không biết đầy đủ họ tên. Rất mong ls giúp đỡ.

Bạn chỉ cần cung cấp cho cơ quan công an những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác điều tra, còn việc xác định người phạm tội là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

Dạ thưa luật sư tôi muốn kiện người phụ nữ cướp chồng mình thì làm đơn như thê nào ạ. vì người phụ nữ kia đang ăn ở với chồng tôi và đang có bầu với chồng tôi. vậy luật sư có thể cho tôi biết cách làm đơn kiện người phụ nữ kia ạ

Bạn có quyền tố cáo hành vi của người này đến UBND hoặc công an, hành vi này vi phạm hành chính và sẽ bị xử phạt theo Nghị định Nghị định 110/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính bổ trợ tư pháp hành chính tư pháp:

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Nếu như đã bị xử phạt hành chính mà còn tiếp tục vi phạm hoặc việc vi phạm dẫn đến ly hôn, tự tử,... thì sẽ bị truy cứu TNHS theo quy định sau tại BLHS:

Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Bạn có quyền tố giác tới cơ quan công an, viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội này.

A (25 tuổi, đã có vợ và con gái 4 tuổi), quen biết và đặt vấn đề yêu đương với N (19 tuổi đang là sinh viên). A nói dối N là mình mới 22 tuổi và cũng đang là sinh viên. N chưa nhận lời yêu A nhưng sau khoảng 1 tháng quen biết, A mời N đi chơi và đưa N vào nhà nghỉ để tâm sự. N không đồng ý nhưng bị A kéo lên phòng thuê tại tầng 3. A khoá cửa phòng và đòi N cho quan hệ tình dục. N không đồng ý thì bị A đẩy vào nhà vệ sinh dội nước vào người, lột hết quần áo nhúng vào nước và doạ giết nếu N không đồng ý để A quan hệ tình dục. Thấy thái độ hung hãn của A, N sợ hãi, giả vờ đồng ý để nghĩ cách thoát thân. Lợi dụng lúc A đang cởi quần áo của hắn, N quấn chăn mở cửa chạy ra ban công kêu cứu. A đuổi theo bắt lại, N sợ hãi nhẩy từ ban công tầng 3 xuống đất và bị thương tích tổn hại 75% sức khoẻ. Câu hỏi: 1. Định tội danh và xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A.(2 điểm) 2. Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù? (1,5 điểm) 3. Giả sử, N là nữ sinh 15 tuổi thì tội danh và hình phạt nặng nhất mà A phải chịu có thay đổi không? Tại sao? (2 điểm) 4. Giả sử, A mới chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội cướp giật tài sản được 3 tháng thì thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao? (1,5 điểm)

Căn cứ BLHS:

1. Từ các dấu hiệu bạn cung cấp, chúng tôi xác định A đáp ứng cấu thành tội phạm Hiếp dâm theo Khoản 3 Điều 111 BLHS. Khung hình phạt: hai mươi năm hoặc tù chung thân.

2. Hình phạt nặng nhất A có thể phải chịu không quá mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt tương ứng là tù chung thân.

3. N 15 tuổi. Trường hợp này A phạm tội Hiếp dâm trẻ em theo Khoản 3 Điều 112. Hình phạt nặng nhất A phải chịu là: tử hình.

4. Trường hợp này A đã phạm tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, do đó áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm.

A (25 tuổi, đã có vợ và con gái 4 tuổi), quen biết và đặt vấn đề yêu đương với N (19 tuổi đang là sinh viên). A nói dối N là mình mới 22 tuổi và cũng đang là sinh viên. N chưa nhận lời yêu A nhưng sau khoảng 1 tháng quen biết, A mời N đi chơi và đưa N vào nhà nghỉ để tâm sự. N không đồng ý nhưng bị A kéo lên phòng thuê tại tầng 3. A khoá cửa phòng và đòi N cho quan hệ tình dục. N không đồng ý thì bị A đẩy vào nhà vệ sinh dội nước vào người, lột hết quần áo nhúng vào nước và doạ giết nếu N không đồng ý để A quan hệ tình dục. Thấy thái độ hung hãn của A, N sợ hãi, giả vờ đồng ý để nghĩ cách thoát thân. Lợi dụng lúc A đang cởi quần áo của hắn, N quấn chăn mở cửa chạy ra ban công kêu cứu. A đuổi theo bắt lại, N sợ hãi nhẩy từ ban công tầng 3 xuống đất và bị thương tích tổn hại 75% sức khoẻ. Câu hỏi: 1. Định tội danh và xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A. 2. Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù? 3. Giả sử, N là nữ sinh 15 tuổi thì tội danh và hình phạt nặng nhất mà A phải chịu có thay đổi không? Tại sao? 4. Giả sử, A mới chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội cướp giật tài sản được 3 tháng thì thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao?

Căn cứ BLHS:

1. Từ các dấu hiệu bạn cung cấp, chúng tôi xác định A đáp ứng cấu thành tội phạm Hiếp dâm theo Khoản 3 Điều 111 BLHS. Khung hình phạt: hai mươi năm hoặc tù chung thân.

2. Hình phạt nặng nhất A có thể phải chịu không quá mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt tương ứng là tù chung thân.

3. N 15 tuổi. Trường hợp này A phạm tội Hiếp dâm trẻ em theo Khoản 3 Điều 112. Hình phạt nặng nhất A phải chịu là: tử hình.

4. Trường hợp này A đã phạm tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, do đó áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng   để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn Luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê