Sau lần ấy, vì căm tức nên anh hàng xóm đã đánh người chồng của bạn tôi bằng hung khí là một khúc gỗ dài phải nhập viện còn chị vợ thì tiếp tục có những lời nói thiếu văn hoá tiếp tục chửi bới người bạn tôi.(tôi không rõ tỉ lệ thương tật bao nhiêu phần trăm) Vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này, gia đình anh hàng xóm bị xử như thế nào cho đúng. Gia đình bạn tôi được bồi thường thiệt hại như thế nào. Uỷ ban xã có quyền giảm án cho anh hàng xóm đánh bạn tôi không? Sự việc giải quyết công khai trước nhiều người chứng kiến hay chỉ đôi bên với người có thẩm quyền thôi? Em xin cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Hình sự.  công ty Luật Minh khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật Dân sự 2005

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003

Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP

Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP

Nôi dung phân tích:

Trước tiên, chị vợ nhà hàng xóm đã nhiều lần dùng những lời lẽ xúc phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và nhân phẩm của gia đình, hơn nữa chị đó đã từng vị xử phạt hành chính về hành vi này, chị đó có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội "Làm nhục người khác" với tình tiết tăng nặng là "phạm tội nhiều lần", "đối với nhiều người" quy định tại điều 121 Bộ luật Hình sự 1999:

"Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Chị hàng xóm đó có thể phải chịu hình phạt cao nhất là 3 năm tù giam.

Còn anh hàng xóm đã có hành vi đánh người gây thương tích thì sẽ phải bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Nếu Anh chồng kia bị thương dưới 11% thì người gây thương tích cho anh vẫn bị truy tố trách nhiệm hình sự với tình tiết "Dùng hung khí nguy hiểm"

Theo Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP và nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP thì hung khí nguy hiểm có thể là vật có sẵn trong tự nhiên như đoạn gậy cứng, khúc gỗ đó được coi là hung khí nguy hiểm vì khi đánh người bằng khúc gỗ đó hoàn toàn có thể dẫn đến hậu quả chết người.

Theo Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì trường phạm tội tại khoản 1 Điều 104 thì phải truy tố theo yêu cầu của người bị hại.

Bây giờ, để ngăn chặn, trừng trị tội phạm, gia đình bạn phải đến cơ quan công an để tố giác hành vi phạm tội của vợ chồng nhà hàng xóm tại cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác, sau đó cơ quan có thẩm quyền sẽ tiếp nhận và đưa vụ án ra giải quyết theo thẩm quyền, theo trình tự thủ tục. Và Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như giảm án cho người phạm tội.

Nếu gia đình nhà hàng xóm có thái độ ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, nếu gia đình bạn chấp nhận thì cũng có thể không truy tố trách nhiệm hình sự đối với họ, nhưng sau khi nhận tiền bồi thường và lời xin lỗi, bạn không có quyền yêu cầu khởi tố lại trừ khi bị gia đình đó ép buộc, đe dọa.

Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

(Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự)

Vụ án này sẽ được xét xử công khai

Về vấn đề bồi thường thiệt hại thì gia đình bạn sẽ được nhận bồi thường thiệt hại về sức khỏe, về danh dự nhân phẩm, và tài sản bị mất mát, hư hỏng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 cụ thể như sau:

"Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm  

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Khi vụ án được đưa ra xét xử thì vấn đề bồi thường thiệt hại cũng được tòa án giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.