1. Đánh người gây thương tích rồi bỏ trốn xử lý như thế nào ?

Tội cố ý gây thương tích, đánh nhau gây thương tích là một trong những nhóm tội danh thường gặp theo quy định của luật hình sự và được xét xử khá nhiều tại tòa án. Luật sư của Công ty luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp một số vấn đề pháp lý liên quan:

Luật sư tư vấn:

Thưa luật sư, Bà hàng xóm bên cạnh nhà e năm nay đã 54 tuổi nhưng lại đánh trấn thương Bà nuôi em(52 tuổi) gây thương tích cho bà nuôi em là 15%. Vậy mức án bà hàng xóm phải nhận là gì ạ? Mong luật sư giải đáp cho e với ạ!

Căn cứ theo Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009. quy định về tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe của người khác như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Vậy trong trường hợp này , người gây thương tích cho bà bạn với thương tật là 15% thì đã phạm phải tội cố ý gây thương tích cho người khác theo khỏan 1 điều 104 BLHS nêu trên, về mặt hình phạt , tùy theo các yếu tố nhân thân cũng như việc người này có thành khẩn khai báo và khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra hay không mà tóa án sẽ tuyên người này với mức hình phạt phù hợp tại khaon 1 điều 104 nêu trên .

Xin chào văn phòng luật sư minh khuê! Em tên L em xin nhờ luật sư giúp đỡ ạ! sự việc của gia đình em như sau : Cậu em đi khai nước ruộng bị 1 người có mâu thuẫn với em trai hắn kiếm chuyện gây sự. Khi mới vào ruộng hắn có gọi cậu em lại nhưng cậu em sợ có chuyện nên không ghé mà đi thẳng vào ruộng khai nước lúa luôn. Khi về hắn tiếp tục la ó kêu cậu em nữa nhưng cậu em chạy bộ đi luôn không trả lời hắn. Khi đi ruộng cậu em có mang theo cái leng khai nước lúa được vác trên lưng. Hắn kêu cậu em không dừng lại nên hắn chửi và chạy theo nắm lấy cổ áo từ phía sau, đánh vào vùng cổ và sau đầu cậu e 3 4 đấm. Cậu em quay người lại làm cái leng trúng vào tráng hắn bị thương. Cậu em xô hắn ra và bỏ leng chạy về nhà. Hắn gọi anh em ra nhà cậu em kiếm trả thù. Nhưng cửa nhà khóa lại nên hắn chỉ đập cửa mà không mở được. Rồi chạy ra phía trước đường kiếm cậu em đánh lại...khi yêu cầu công an giải quyết bắt cậu em phải bồi thường tiền thuốc và công lao động cho hắn. Vì tội cố ý gây thương tích có sử dụng vũ khí phạt hình khung từ 2-3 triệu. Xin cho em hỏi vậy có đúng hay không ạ?

Trong trường hợp này của bạn , có thể xác định cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt hành chính cậu bạn với hành vi cố ý gây thương tích cho người khác với mức thương tật dưới 11% theo điểm a khoản 2 điều 5 nghị định số 67/2013//NĐCP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN NINH, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI; PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI; PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY; PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH. với mức phạt là từ 500000-1.000.000 đồng , cùng với tiền chữa trị , thuốc men và trả công lao động cho người đó.

Về mặt lỗi và hành vi , cậu bạn chỉ vô ý gây thương tích cho người khác chứ không cố ý hành hung như điều luật nêu trên quy định vì vậy vụ việc này cậu bạn không vi phạm theo điều khoản nêu trên nên không bị xử phạt hành chính về hành vi này mà chỉ phải bồi thường những chi phí khám chữa bệnh và tổn thất tinh thần cho người này . Theo quy định của bộ luật dân sự 2005 về việc bôi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vô ý gây thương tích cho người khác :

Tại Điều 604 BLDS 2005 quy định Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể

khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Và tại mục 1 phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.

Vậy nếu không đồng ý quyết định xử phạt của cơ quan công an thì cậu bạn có thể gửi đơn khiếu nại yêu cầu cơ quan này xem xét lại vụ việc và đưa ra phương án xử lý cho phù hợp với các quy định của pháp luật .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về cố ý gây thương tích trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo thêm nội dung: Phân biệt tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người ?

2. Tư vấn trường hợp đánh người gây thương tích ?

Kính chào Luật Minh Khuê: Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Anh A (làm thuê) có bị nhá máy mà không biết lý do vô cớ gì lại nghi ngờ anh B nên đã xuyên tạc anh B (giáo viên) nhiều lần mà không gặp nói chuyện trực tiếp, A còn nháy máy B dù B không biết chuyện gì nên anh B đã nuôi giận. Một hôm chập tối, A ngang qua nhà B và bị B gọi lại hỏi cớ sao xuyên tạc thế và tức giận đấm vỡ kính và rách vùng da dưới mắt 1cm.

Sau chuyện đó A đã tố cáo B. Vì là giáo viên nên B đã xin lỗi và chịu bồi thường viện phí 2 triệu nhưng A không chịu. Vậy xin hỏi luật sư là với một giáo viên B tuổi đời 30 năm và không tiền án tiền sự thì B sẽ chịu mức phạt nào là cao nhất ạ ? Và có thể cứu vãn chuyện đó như thế nào là nhẹ nhất cho B ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.H

Tư vấn trường hợp đánh người gây thương tích ?

Luật sư tư vấn hình sự về hành vi đánh người thương thích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Liên quan tới câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 104 Bộ Luật Hình sự năm 1999 (Bộ Luật Hình sự năm 2015 ) về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có quy định như sau:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Vì bạn không cung cấp thông tin là A bị thương tích với tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm? Trong trường hợp này nếu dưới 11% thì B sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 104 mà chỉ bị xử phạt hành chính theo khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

"...3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;

b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;

c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;

d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;

đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;..."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề trường hợp đánh người gây thương tích. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về Bộ luật hình sự 2009 và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi: 1900.6162.Trân trọng./.

3. Tư vấn trường hợp đánh người gây thương tích 2% ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Gia đình em và gia đình hàng xóm đã có mâu thuẫn từ trước. Em thấy ông hàng xóm sang nhà bên cạnh chơi. Em sang em muốn hỏi chuyện. Thì ông ý đứng dậy túm cổ áo em vừa chửi vừa rút ghế gỗ đang ngồi dơ lên để đánh em. Em đỡ được và dật cái ghế gỗ ý định cho rơi ra. Nhưng vào đầu ông ý.

Ông ý đi viện và giám định thương tật 2%. Em xin hỏi là em sẽ bị ghép vào hình phạt cụ thể như nào của pháp luật. Em xin chân thành cảm ơn. Mong sớm nhận được phản hồi của quý luật sư.

Người gửi: H.L

 Tư vấn trường hợp đánh người gây thương tích 2% ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo điều 104, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình e) Có tổ chức

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

Qua những thông tin mà bạn cung cấp mình thấy rằng, hành vi của bạn chưa đủ cấu thành tội phạm. Vì vậy bạn sẽ thực hiện bồi thường thiệt hại
cho người này theo quy định của Bộ luật dân sự 2005

Điều 609 Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung: Hành vi cố ý gây thương tích có thể bị phạt tù với mức cao nhất là chung thân

4. Đánh người gây thương tích thì bị xử phạt thế nào ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Trong lúc có men rượu trong người nên không kiềm chế được bản thân, em tôi có đánh bằng tay không vào mặt một người , sau đó người đó đi khám về bảo bị rạn nứt xương hàm hiện chưa biết tỉ lệ % là bao nhiêu.

Vậy cho hỏi em tôi phạm tội gì? có phải đi tù không? và có bị mất việc làm không? Vì người đó và em tôi đều là giáo viên. Xin cảm ơn.

Người gửi: S.D

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự 1900.6162

Trả lời:

Trước tiên, Công ty Luật Minh Khuê cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Vấn đề của em trai bạn được giải quyết như sau:

Thứ nhất: Về hành vi đánh người, nếu tỉ lệ thương tật từ 11% trở lên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999:

Điều 104 quy định về tội cố ý gây thương tích như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

A) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

B) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

C) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

D) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

Đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

E) Có tổ chức;

G) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

H) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

I) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

K) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Trường hợp tỷ lệ thương tật của người bị hại dưới 11% hoặc không thuộc các trường hợp tại khoản 1 điều 104 BLHS đã nêu trên thì em trai bạn có thể bị xử lý vi phạm hành chính. Theo điểm e, khoản 3, Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì đối với hành vi xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe người khác sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng.

Thứ hai: Em trai bạn là giáo viên với tư cách là viên chức thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật viên chức 2010Nghị định 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp của giáo viên sẽ bị xử lý kỉ luật với hình thức khiển trách, cảnh cáo tùy theo mức độ thực hiện hành vi. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, tính chất của hành vi thì cơ quan nơi em trai bạn công tác sẽ dựa vào đó để đưa ra hình thức kỷ luật cuối cùng.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.Trân trọng./.

5. Tội đánh người gây thương tích bị xử lý như thế nào?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi có câu hỏi mong Luật sư tư vấn giúp tôi: Năm 2004: Ông Nguyễn Văn Đình ( Đã chết tháng 9 năm 2015) có viết biên bản có xác nhận của chính quyền địa phương về việc cho 2 con là ông Nguyễn Văn Biên và Nguyễn Kim Lân mỗi con ½ diện tích đất mỗi người 1.250m2.

Năm 2009 Ông Nguyễn Văn Biên và ông Nguyễn Kim Lân đều được nhà nước cấp gcnqsd. Do địa hình mảnh đất mà cổng phải đi chung mới vào được phần diện tích đất mà ông đình cho 2 con sử dụng. Năm 2012: Ông Đình lại đổi ý không cho ông Lân nữa mà có ý định cho con dâu của mình ( Không phải vợ của ông Biên và Ông Lân). Ông Đình mang đơn kiện ông Lân và đã được UBND huyện, tài nguyên môi trường giải quyết: Đất đã thuộc sở hữu của ông Lân nên mọi ý định của Ông Đình muốn phải dc sự nhất trí của ông Lân. Trong phần diện tich đất ông Đình cho con trai mình: có ngôi nhà trên đất mà ông Đình vẫn sử dụng. Do thỏa thuận lại với con ko dc, ông Đình giận ko ở nhà trên đất ông Lân nữa mà chuyển lên nhà Ông Biên để ở. Và ông chết để lại ngôi nhà vẫn trên đất ông Lân và chết đột ngột nên ko có căn rặn lại gì. Sau khi ông Đình mất, tháng 3 năm 2016.

Ông Lân có ý định phá bỏ nhà ông Đình trên đất của mình, nhưng do cổng vào còn đi chung và do ông Biên còn mâu thuẫn với ông Lân, nên nói rằng: Ông ko dc phá nhà tổ. Con trai ông Lân là anh: Nguyễn Văn Lại gọi máy xúc vào để xúc nhà ông Đình trên ditch đất của mình thì gặp ông Biên cầm qoắm ra can ngăn, ông Lại nói: “ Đất của tao tao làm gì thì làm”, Ông Biên nói: “Không được phá nhà tổ” . Hai bên cãi cự, ông Biên cầm qoắm chém vào tai và cổ anh Lại: thương tích nhẹ chỉ phải khâu. Anh Lại bực mình vì bị chém, sẵn cái xà beng định cạy nền nhà đánh vào đầu ông Biên làm ông Biên rạn sọ não và đang điều trị tại viện 105 (chưa xác định được % thương tích). Ông Lân thấy con bị đánh cũng đánh vào sườn ông Biên để dọa ông Biên, nhưng ông đã đánh vào sườn khiến ông biên rách da và rạn xương (chưa xác % định thương tích) Ngay sau khi vụ việc xảy ra, ông Biên và anh Lại bị đi viện cấp cứu. Ông Lân bị c.a huyện bắt và lấy lời khai. Sau 10 ngày anh Lại ra viện dc công an tỉnh bắt và lấy lời khai. Gia đình ông Lân có hối lỗi qua thăm hỏi và muốn được bồi thường tất cả thuốc, thiệt hại cho ông Biên. Nhưng ông Biên chưa đồng ý.

Câu hỏi xin Luật sư tư vấn: Anh Lại và ông Lân chịu khung hình phạt như thế nào? Anh lại và ông Lân có dc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự? Ông Biên có lỗi đánh trước, anh Lại có được kiện ông Biên không?

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự SĐBS 2009) quy định:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Về tình tiết dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự, tại mục 3.1 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP đã hướng dẫn như sau: “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Như vậy, hung khí nguy hiểm được hiểu là vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm, trong đó:

Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

và Điều 15 Bộ luật hình sự 2009 SĐBS một số điều của Bộ luật hình sự 1999 quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Cụ thể:

Điều 106. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

Căn cứ theo thông tin bạn cung câp và các quy định pháp luật trên, anh Lại phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng, với tội danh này, anh Lại có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. Đối với ông Biên, hành vi đánh anh Lại tuy không gây ra thương tích nguy hiểm nhưng thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm thuộc trường hợp được quy đinh tại điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự 1999, do đó, ông Biên có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Đối với ông Lân, nếu hành vi của ông Lân gây thương tích cho ông Biên từ 11% trở lên hoặc dùng hung khí nguy hiểm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, nếu không thuộc trường hợp trên thì ông Biên chỉ bị phạt hành chính về hành vi của mình.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Căn cứ theo quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự 1999 quy định:

Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Căn cứ theo các quy định tại điểm c, g, h, p của Điều 46, và Điều 47 thì anh Lại và ông Lân (nếu phạm tội) sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về bồi thường thiệt hại, theo Điều 607, Điều 613 và Điều 617 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 613. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

2. Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Điều 607. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

Xét theo các quy định trên, anh Lại và ông Biên đều có lỗi, nếu khởi kiện tại Tòa án thì anh Lại (do vượt quá phòng vệ chính đáng) có nghĩa vụ bồi thường cho ông Biên. Mức bồi thường được xác định theo mức độ lỗi của ông Biên (đánh anh Lại trước). Do đó, việc anh Lại khởi kiện ông Biên tại Tòa là hoàn toàn không có lợi cho anh Lại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Anh tôi có bị kết án tham gia tổ chức đánh người gây thương tích không ?

Xin chào luật sư! Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Hôm trước anh tôi lái xe chở 4 người bạn có hành vi đánh người gây thương tích nặng. Hiện tại 1 trong 4 người đấy đã bị bắt. Còn anh tôi thì cũng bị công an huyện gọi lên hỏi cung mấy lần. Vậy trong trường hợp trên anh tôi có bị kết án tham gia tổ chức đánh người gây thương tích nặng không? Hình phạt xử lý như nào?
Mong luật sư giải đáp sớm. Xin cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn luật hình sự, tham gia tranh tụng vụ án hình sự

Luật sư tư vấn Luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được chia ra hai khả năng:

Thứ nhất, nếu anh trai bạn không biết việc chở những người kia để đi đánh người hoặc mức độ thương tích của người bị hại chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: trong trường hợp này, anh bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như không bị khởi tố bị can với vụ việc này.

Thứ hai, nếu anh bạn biết việc chở những người kia là để họ thực hiện hành vi cố ý gây thương tích mà vẫn tham gia và mức độ thương tích của người bị hại đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự: trong trường hợp này, anh trai bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo điều 104 Bộ luật Hình sự 1999 với vai trò là người giúp sức trong vụ đồng phạm.

Về hình phạt:

Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”.

Trong trường hợp anh bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự dưới hình thức đồng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

Điều 53 của Bộ luật Hình sự quy định về việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như sau:

“Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó”.

Bạn có thể đối chiếu các quy định nêu trên của Bộ luật Hình sự để giải quyết trường hợp của mình.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê