Vậy cho em hỏi là em trai của em bị đi tù lâu không ạ ? em trai chưa có tiền án tiền sự.

Xin cảm ơn. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Đánh người thương tích trên 60% sẽ bị xử lý như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự 1900.6162

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật hình sự năm 1999

- Bộ Luật hình sự năm 2009 sữa đổi bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự năm 1999

Nội dung trả lời:

 

 Theo Điều 14 BLHS năm 2009 ( sữa đổi, bổ sung năm 2009) . Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác
"Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự."
Như vậy, trong tình trạng say rượu mà thực hiện hành vi phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 104 BLHS 1999( sữa đổi bổ sung năm 2009) quy địn về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 
"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Căn cứ vào điều 104 nêu trên, thì gây thương tích 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm k khoản 1 điều 104 thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. Mức hình phạt cụ thể sẽ do thẩm hán quyết định căn cứ vào tính chất nguy hiểm trong hành vi của em trai bạn.

Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì căn cứ vào điều 23 BLHS 1999 sữa đổi, bổ sung  năm 2009 như sau:
Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;
b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;
c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;
d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ."
Em của bạn gây thương tích trên 60%, và hành vi được thực hiện trong thời gian 3 năm trước, như vậy, dù em của bạn bị truy cứu theo khoản nào của Điều 104 BLHS thì vẫn chưa hết thời hạn truy cứu theo khoản 2 Điều 23 BLHS nêu trên.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT- CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ