Người đàn ông A này có nhiều biểu hiện khích bát quá đáng với mọi người trong bàn nhậu nên ai cũng tỏ vẻ không thích thì người thanh niên A gây chuyện đòi đánh. Người A về gọi thêm đồng bọn chuẩn bị cây gậy để chặn đường đánh những người trong bàn nhậu. Khi cuộc nhậu tàn, anh vợ em đứng dậy đi về mà không ngủ lại nhà bạn vì nghe điện thoại mẹ gọi hối về. Trên đường đi về cùng mấy người nhậu chung thì bị chặn đường đánh hội đồng. Trong lúc hoảng loạn không biết mọi người bị sao nhưng anh vợ em bị người ta đánh thâm hết người bất tỉnh tại chỗ. Khi tỉnh lại và nhớ lại sự việc vừa xảy ra với mình, quá ấm ức cùng với có men say trong người nên anh chạy vào nhà một người bạn lấy dao để đánh trả thù. Khi quay lại trả thù anh có đi cùng vài người bạn bè trong xóm. Anh đi tìm A để trả thù thì thấy A và đồng bọn đang ngồi nhậu tại nhà A. Bọn anh lao vào đánh tới tấp hai bên đánh nhau loạn xạ. A bị anh chém phải nhập viện đêm hôm đó do chảy máu quá nhiều. A bị vài vết chém ở lưng, nứt xương cánh tay và nẹp kim loại hai ngón tay. Anh vợ em trở về nhà thì sáng hôm đó bị đồng bọn của A khoảng 10 người xông thẳng vô nhà đánh hội đồng bị thương ở đầu mắt mũi chảy máu. Khi đó mẹ vợ em biết tin nên lật đật đi vay mượn tiền vọn vẹn chỉ được 10 triệu để lên xem A như thế nào để xin lỗi gia đình mà còn lo liệu. Gia đình bên anh A đã nhận tiền 10 triệu và viết giấy nhận tiền cho mẹ vợ em. Mẹ vợ em hứa sẽ chạy vay tiền để lo cho anh A toàn bộ tiền chạy chữa. Gia đình anh A đồng ý.

Nhưng sang ngày hôm sau mẹ vợ em lên thăm nom anh A thì gia đình anh A bắt mẹ vợ em phải đền cho bên a A 100 triệu và ép anh vợ em phải ngồi tù mới được. Gia đình họ hàng bên vợ em đã cố gắng hết sức chạy vạy thì chỉ có thể lo liệu được khoản viện phí là 40 triệu và 10 triệu bồi dưỡng cơ thể tinh thần cho bên anh A. Nhưng bên gia đình anh A không chịu. Vì gia đình họ hàng ai cũng khó khăn nghèo khổ không xoay sở thêm được nữa nên mẹ vợ bất lực đành lòng để con đi tù. Nhưng hơn 9 tháng nay từ ngày bên A đã khởi kiện lên đơn vị thẩm quyền, gia đình em lo lắng sao chưa thấy công an gọi lên giải quyết. Đến hôm nay vụ án chuẩn bị được xét xử. Bên A thuê luật sư đến nói gia đình em phải đền bù 70 triệu và anh vợ phải đi tù. Trong đó luật sư bên A nói 50 triệu tiền viện phí và 20 triệu tiền thiệt hại tinh thần.... Vậy theo luật sư trong trường hợp này gia đình em nên giải quyết như thế nào là tốt nhất và cho em hỏi là thuê luật sư có cần nhiều tiền không. Anh vợ em có phải ngồi tù không và nếu ngồi tù thì mức án như thế nào.

Dạ xin luật sư tư vấn giúp em.... Em xin cảm ơn luật sư. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sựcông ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

I.  Dấu hiệu pháp lý
1.  Khách thể: là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người.
2.  Khách quan: là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác trái pháp luật
- Trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định nếu thuộc ít nhất một trong các trường hợp:
+ Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người (VD dùng dao nhọn)
+ Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặ gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân để lại trạng thái thất thường, không thể chữa trị được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11 % khi thuộc một trong các trường hợp: làm mất bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm mất chức năng bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm ảnh hưởng đến thẩm mĩ của nạn nhân…
+ Phạm tội nhiều lần đối với cùng 1 người hoặc đối với nhiều người
- Hậu quả gây thương hoặc tổn hại sức khỏe của người khác ở mức mà điều luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
3. Chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp
4. Chủ thể: là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1, 2 và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 3, 4, điều 104 Bộ luật hình sự.

II.  Hình phạt
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
A) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
B) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
C) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
D) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
Đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
E) Có tổ chức;
G) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
H) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
I) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
K) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Vì bạn không cung cấp đầy đủ thông tin nên nếu như anh trai bạn thỏa mãn các yếu tố cấu thành được phân tích nêu trên thì anh bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại điều 104 BLHS. Việc xác định có phải đi tù hay không, mức phạt tù bao nhiêu năm phải dựa vào tỷ lệ thương tích, lỗi, các yếu tố khách thể, chủ thể, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ.... để kết luận. 
Điều 609 BLDS 2005 và theo hướng dẫn Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 03/2006 hướng dẫn một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bao gồm:
   - Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

 - Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

  - Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

 - Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

 - Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

 Nếu người đó chưa có thu nhập thì bạn không cần bồi thường thiệt hại với thu nhập thực tế của người bị hại.

 Về vấn đề thuê luật sư để bảo chữa bạn cần lưu ý một vài lưu ý sau:

  Ngay từ đầu bảng giá xác định là tiền thù lao có thể theo thỏa thuận hoặc ngoài thỏa thuận – đó là nguyên tắc. Bảng giá Luật sư theo thỏa thuận có nghĩa là Luật sư thỏa thuận với khách hàng tiền thù lao theo công việc. Thù lao theo thỏa thuận thì tự do, điều khoản qui định giá cả không hề tác động đến, nhưng đồng thời vẫn đánh giá trên cơ sở khả năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, từ các góc độ cho phù hợp.

 Tiền thù lao theo thỏa thuận cũng có giới hạn nhất định.

  Khoản tiền đó một là phải theo thực tế khách quan, là theo giá trị sự việc và mức độ phức tạp của nó, hai là theo thực tế chủ quan. Thù lao thỏa thuận sẽ không phải là vô hạn và hơn nữa theo như tinh thần chung của Bảng giá tiền thù lao thì Luật sư phải cố gắng giải quyết tranh chấp làm sao cho hiệu quả nhất về tài chính.

Thù lao theo thỏa thuận có thể được thỏa thuận theo mức trả cho 1 giờ công, trả theo tỉ lệ giá trị của vật tranh chấp, nhưng Luật sư không bao giờ được vi phạm nguyên tắc trong khi hành nghề“.

 Phần thứ hai của Bảng giá thù lao cho Luật sư điều chỉnh cả khoản thù lao ngoài thỏa thuận, đó là khoản Luật sư được nhận trong trường hợp trước đó không có thỏa thuận giữa Luật sư và khách hàng về mức thù lao. Và cả trong trường hợp khi tính thù lao cho Luật sư, mà Luật sư đó do Tòa điều phối chỉ định cho khách hàng đó.

 Khoản tiền thù lao được tính cho các công việc dịch vụ pháp lý, tương tự như theo qui chế của bộ Tư pháp thì khoản đó được tính từ giá trị sự việc, phù hợp với từng công việc của dịch vụ pháp lý mà Luật sư đã thực hiện. Trong thục tế cuộc sống thì Luật sư thường ký với khách hàng bản Hợp đồng trong đó có nói là khoản tiền thù lao sẽ được xác định theo bảng giá với các mức giá qui định đối với thù lao ngoài thỏa thuận. Tất nhiên là phải phân biệt giữa vụ án dân sự và án hình sự.
 Công việc trợ giúp pháp lý gồm có: Tiếp nhận vụ việc, nghiên cứu để hiểu rõ vụ việc đó, có thể sẽ phải thỏa thuận với bên kia trước khi đệ đơn kiện họ, đệ đơn kiện, có thể sẽ phải thảo bản kháng án, tham gia xử án, tham gia quá trình xử kháng án.

Lệ phí luật sư ( khoản cố định)
 Lệ phí Luật sư xác định rõ ràng mức tiền thù lao cho Luật sư trong vụ xét xử ở Tòa và Toà quyết định cho bên thắng kiện được nhận khoản tiền để chi phí cho đại diện pháp lý của mình, đó chính là tiền thù lao cho Luật sư mà bên thua kiện phải trả. Khi Tòa quyết định khoản tiền thù lao cho Luật sư (của bên thắng kiện), không phụ thuộc vào chuyện Luật sư và thân chủ đó thỏa thuận thế nào, có áp dụng bảng giá Luật sư theo công làm việc hay không, Tòa sẽ quyết định là bên thua kiện phải trả cho bên thắng kiện các chi phí thuê Luật sư theo bảng giá có trong Thông cáo nói trên.

 Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. 

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

 Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

 Trân trọng./.

 Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.