Sau đó, trên đường về nhà ông C và bà D đưa cho ông bạn tôi 300 triệu đồng (ông ấy không được giữ hợp đồng). Đến ngày 11 tháng 10 năm 2016 ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đến nhà ông bạn tôi thông báo phát mại tài sản xổ đỏ với lý do diện tích đất trên đã chuyển nhượng cho ông K và ông K thế chấp tại ngân hàng. Đến kỳ trả nợ không trả bị ngân hàng kiện ra tòa và tịch thu tài sản. Như vậy bà B, ông C, Bà D và ông K phạm tội gì? Có khởi tố vụ án được không? Thủ tục ra sao?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi : 1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa dổi, bổ sung năm 2009);

Bộ luật dân sự năm 2005;

Nội dung tư vấn

Với thông tin bạn cung cấp chúng tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, có tồn tại một hợp đồng dân sự và hợp đồng này đã được công chứng thì có căn cứ về khoản vay của người vay với ba người khác không? Hay đó là một giao dịch về mua bán tài sản có đối tượng là quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền trên đất?

Thứ hai, đến ngày 11 tháng 10 năm 2016 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thông báo phát mại tài sản đã phù hợp chưa?

Thứ ba, bà B, ông C, bà D, ông K có phạm tội không? tội gì?

Dựa trên những vấn đề đó chúng tôi đưa ra lời tư vấn như sau:

- Ông Anh và ba người khác đã xác lập một giao dịch dân sự vay tài sản và có đem tới văn phòng công chứng để công chứng. Như vậy, đây chính là một cơ sở pháp lý vững chắc cho cả người vay và người cho vay. Điều đó có nghĩa là mặc dù ông Anh không có hợp đồng thì vẫn có cơ sở để khẳng định tồn tại một hợp đồng vay tài sản giữa họ. Tuy nhiên, đến ngày 11 tháng 10 năm 2016, Ngân hàng thông báo phát mại nhà của ông Anh với lý do đã được chuyển nhượng sang cho ông Khương và ông Khương đã dùng tài sản này thế chấp, không có khả năng trả nợ. Điều bày đặt ra một vấn đề là có thực sự hợp đồng mà ông Anh ký với ba người kia có thực sự là hợp đồng vay tài sản không? Hay đó là một hợp đồng mua bán tài sản. Nếu như thông báo của ngân hàng rằng đất, nhà của ông Anh đã chuyển nhượng sang cho ông Khương thì rõ ràng nhận thấy một điều rằng tồn tại một giao dịch dân sự không có giá trị pháp lý do người có tài sản bị lừa dối. Và đương nhiên giao dịch này sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu ông Anh yêu cầu Tòa án tuyên. Điều 132-Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.". 

Như vậy, khi một giao dịch bị tuyên bố vô hiệu thì hậu quả sẽ phát sinh. Điều 137-Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.". 

Theo đó, quyền lợi của ông Anh sẽ được đảm bảo khi có căn cứ khẳng định giao dịch này vô hiệu do bị lừa dối và được Tòa án tuyên bố vô hiệu.

- Vấn đề đặt ra tiếp theo là nếu đây là một giao dịch vô hiệu thì bốn người kia có phạm tội không? 

Nhận thấy rằng ông K là người nhận chuyển nhượng tài sản nên có thể đồng phạm với bà B, bà D, ông C. Tức là phải xét tới ông K có biết ba người này đã lừa dối để chiếm đoạt tài sản của ông Anh hay không. Nếu biết và thực hiện theo thì sẽ là đồng phạm và ngược lại.

Hành vi của ba người này đó là ký kết một hợp đồng vô hiệu do lừa dối để tiến hành chuyển nhượng nhà, đất của bị hại cho người khác. Đây là thủ đoạn gian dối lợi dụng ông Anh không biết chứ, kiến thức hạn chế....để  thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Như vậy hành vi của những người này chắc chắn sẽ phạm tội. Tuy nhiện đó là tội gì thì phải dựa vào cấu thành của hai tội sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Theo hai quy định này nhận thấy, để xác định được ba người trên phạm tội theo điều 139 hay 140 thì phải xét tới mục đích phạm tội của họ xuất hiện trước hay sau thời điểm nhận tài sản. Nếu xuất hiện trước đồng nghĩa với việc thay vì ký một hợp đồng vay tài sản mà ký một hợp đồng mua bán tài sản thì họ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139-Bộ luật hình sự năm 1999. Ngược lại, nếu mục đích xuất hiện sau tức là có ký một hợp đồng vay tài sản nhưng sau đó đã tiến hành chuyển nhượng cho ông Khương thì sẽ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Khi có hành vi phạm tội xảy ra chắc chắn một điều rằng cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều này có nghĩa là trường hợp của ông Anh sẽ được cơ quan điều tra khởi tố vụ án để điều tra, xác minh hành vi phạm tội, người phạm tội. Vì vậy, công việc mà ông Anh cần làm bây giờ là thông báo đến cơ quan Công an để họ tiếp nhận, xử lý thông tin và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về quốc tịch, hộ tịch và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự.