Cho đến những ngày vừa qua, cháu nhận được điện thoại từ cô giáo với nội dung rằng cháu nhận tiền học từ hai bạn A và B mà không trả, và bố mẹ hai bạn yêu cầu gặp mặt trực tiếp cháu. Cháu vô cùng bất ngờ vì như đã trình bày ở trên, cháu không hề gặp hai bạn sau khi hai bạn đã nghỉ. A và B vu oan rằng họ bắt gặp cháu trên đường vào những ngày giáp Tết, và nhờ cháu nhận số tiền hơn 1 triệu đồng học phí cho cô giáo. Cháu khẳng định rằng mình không hề gặp hai bạn, cũng chưa bao giờ nhận được số tiền nêu trên. Khi cháu yêu cầu nói chuyện với hai bạn, họ đều cho rằng đã nhìn thấy cháu và đưa cho cháu. Cụ thể, A (là người quen cháu) nhìn thấy cháu và nhờ B đến chỗ cháu đưa tiền, nhưng không nhìn thấy việc đưa tiền trực tiếp. Còn B thì cho rằng khi đó có một nhân chứng là bác bán nước đã trông thấy B đưa tiền cho cháu. Vậy cháu có một số nội dung cần giải đáp.
1.Có khả năng nào A và B câu kết với người ngoài để tạo nhân chứng giả không ạ? Hơn nữa, nhân chứng được xác định là người cao tuổi, theo cháu là khả năng phân biệt mọi người đã bị hạn chế, liệu A và B có thể nhờ người ta làm nhân chứng không? Và nhân chứng đó có được chấp nhận không ạ?
2.A và B không có số liệu ngày tháng hay thông tin về địa điểm gặp mặt, thời điểm gặp mặt cháu, cũng không có bất cứ giấy tờ hay công cụ xác minh đã đưa tiền gặp cháu, nhưng vẫn đinh ninh rằng cả hai đều gặp. Nếu chỉ nói bằng miệng, và giả sử như có nhân chứng, khả năng cháu trong sạch là có cao không? Cháu nên làm gì để giải quyết vấn đề này ạ? A và B đã xúc phạm đên danh dự và nhân phẩm của cháu, vu oan và đặt điều cháu không làm. Cháu cảm thấy rất bức xúc và bế tắc khi ở trong tình cảnh này. Cháu mong nhận được sự hỗ trợ và tư vấn từ các vị luật sư.

Cháu xin chân thành cảm ơn!.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1.Cơ sở pháp lý.

- Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).

2.Nội dung tư vấn.

Thứ nhất, liệu 2 bạn A và B có cấu kết để tạo nhân chứng giả không?.

Trong trường hợp này, chúng tôi cũng chưa có căn cứ đủ để khẳng định được rằng 2 bạn A và B có hành vi, thủ đoạn đó không?. Mặc khác, người làm chứng theo quy định của pháp luật không quy định rõ độ tuổi nào thì không đủ điều kiện là người làm chứng mà quy định là người có năng lực hành vi dân sự. Tức là Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Mặc dù người làm chứng cũng sẽ được cơ quan điều tra chấp nhận hay không  nhưng chỉ căn cứ vào điều kiện là người coa tuổi cũng không thể khẳng định bác bán nước không đủ điều kiện làm chứng.

Tuy nhiên, việc 2 bạn A và B có cho hành đã giao tiền cho bạn và nhờ nộp học phí thì vấn đề này nếu bạn thực sự chưa được cầm giúp số tiền đó bạn hoàn toàn yên đã có pháp luật bảo vệ. Để chứng minh việc bạn có được cầm giúp tiền học phí của 2 bạn đó là phải có căn cứ  và cụ thể chứ không chỉ lấy lời khai từ 1 bên.
Thứ hai, Việc A,B đã vu khống bạn?
Vấn đề 2 bạn A và B vẫn cứ cho rằng  bạn đã được nhận số tiền đó thì bạn có thể xác minh thêm một số thông tư như: Chính xác viêc 2 bạn đã nghỉ học hẳn chưa lại phát sinh học phí ; cụ thể thời gian, địa điểm đã nhờ bạn; đối chất trực tiếp với người làm chứng...Nếu không thể chứng minh được rằng bạn đã có hành vi nêu trên thì tức A và B đã có hành vi và phạm vào tội Vu khống theo quy định tại Điều 122 - Bộ luật hình sự nếu thỏa mãn một số dấu hiệu sau:

 Điều 122. Tội vu khống
 “1.Vu khống là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền", cụ thể về các hành vi trên đó là:

“Bịa đặt" là đưa ra những thông tin không đúng sự thật, tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có với người khác như: không tham ô thì bảo là tham ô, không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ.Hình thức đưa ra những thông tin nói trên có thể dưới những dạng khác nhau như: truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác…

" Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt" Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng v.v... Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết. Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

"Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền". Là hành vi tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền (có thể là Công an, Viện kiểm sát,Tòa án…) về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực. Trong trường hợp này, cần lưu ý là người phạm tội biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố giác họ.

  Thực tế, có trường hợp mặc dù đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, thậm chí đã truy tố ra trước Tòa án và Tòa án đã kết án người bị tố cáo, nhưng sau khi kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập thì mới xác định tội phạm và người phạm tội bị tố cáo là không có thực. Tuy nhiên không phải vì thế mà cho rằng người tố cáo đã có hành vi vu khống mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể (căn cứ lý do, mục đích khác nhau của việc cung cấp tin báo tố giác tội phạm) để xác định người tố cáo không đúng đó có phải là vu khống không. 

Lưu ý: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, người phạm tội biết những thông tin mình đưa ra là không đúng sự thật nhưng đã thực hiện nhằm mục đích xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.Những thiệt hại này có thể đã xảy ra hoặc cũng có thể chưa xảy ra và người phạm tội vu khống chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại có đơn yêu cầu khởi tố hình sự.

   Như vậy, 2 bạn A và B không có đủ căn cứ chứng minh rằng bạn đã có hành vi nhận tiền, đồng thời A, B có thỏa mãn cả 3 dấu hiệu trên thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu khởi tố hình sự đến cơ quan có thẩm quyền nêu trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự qua EmailTư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự.