Tôi đã đồng ý và dẫn t vào nhà của tôi để ngủ, lúc đó vào khoảng 14h chiều tôi đưa t vào phòng ngủ của tôi, sau đó tôi ra ngoài nhà để ăn cơm. Sau đó tôi đi sang quán cafe cạnh nhà để ngồi chơi, ở nhà thì có 1 người bạn tên s của tôi và t đag nằm trong phòng ngủ của tôi. Sau khi tôi sang cafe đc khoảng 40p thì trở về nhà thì tôi ko thấy chiếc xe máy liberty thuộc hãng piaggio của tôi dựng trước cửa nhà đâu nữa. Và tôi đã phát hiện ra t đã lấy trộm giấy đăng ký xe và chiếc xe của tôi mang đi cầm cố lấy 27.000.000vnđ. Tôi đã trình báo công an phường nhân chính, hà nội và sau đó 1 tuần thì ca phường chuyển hồ sơ lên quận ca tx hn. Tôi cũng đã lên trình báo với ca quận tx sự việc tôi bị mất cắp xe và ca có nói là sẽ truy tìm đối tượng, nhưng sau đó vào ngày 8/6/2017 tôi đã tự truy bắt được đối tượng ăn trộm xe của tôi là phạm văn t và đã áp giải lên ca quận tx, đối tượng đã khai nhận toàn bộ sự việc nhưng ca quận tx chỉ tạm giữ t 24h và đã thả ra. Ca quận tx có báo lại vs tôi rằng tạm thời thả đối tượng ra và đang phát lệnh tìm chiếc xe cho tôi. Ca cũng ko nói rõ rằng sẽ xử lí vụ việc như thế nào và chưa có dấu hiệu để nghị gia đình nhà t bồi thường cho tôi. Và đến thời điểm hiện tại là hôm nay 19/6/2017 bên ca quận tx vẫn chưa tìm được chiếc xe hay có động thái đề nghị gia đình t đền bù tiền mặt nếu ko tìm đc xe, t đã khai nhận là cắm xe ở đâu và cho ai, người chủ cầm đồ chiếc xe của tôi cũng đã lên cqca quận tx trình báo nhưng đến nay ca vẫn chưa giải quyết cho tôi. Lời khai từ các bên liên quan ca đã thu thập được đầy đủ, sự việc đã rõ ràng, xác minh được đầy đủ chứng cứ, tội phạm, đối tượng nhưng ca vẫn chưa giải quyết sự việc cho tôi. Nay tôi xin đặt câu hỏi mong văn phòng luật sư tư vấn và cho tôi lời khuyên tôi nên phải làm gì, có nên viết đơn gửi lên trưởng ca quận tx đề nghị giải quyết nhanh đúng người, đúng tội giúp tôi ko. Tôi xin chân thành cám ơn văn phòng luật minh khue.

Người gửi : Vũ Văn Khương

Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Bộ luật hình sự 2015

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định Điều 173 BLHS năm 2015 tội trộm cắp tài sản:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

“Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”.

Tố tụng hình sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, các giai đoạn này đều nhằm mục đích chung của tố tụng hình sự là phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và người phạm tội, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Khởi tố và xử lý kịp thời, nhanh chóng vụ án hình sự là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phòng ngừa và chống tội phạm, do vậy Bộ luật tố tụng hình sự quy định đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự.

–  Điều luật quy định khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án. Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là quyền đồng thời cũng là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Khởi tố vụ án hình sự chỉ được tiến hành khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm và theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý đầu tiên để tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo: điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

–  Bộ luật tố tụng hình sự quv định rõ những cơ quan và những người có trách nhiệm ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đó là:

+  Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;

+  Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền có trách nhiệm ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;

+  Hội đồng xét xử có trách nhiệm ra quyết định khới tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

–  Sau khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Trong thời hạn 24 giờ. kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra đê tiến hành điểu tra; quyết định khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi tới Viện kiểm sát để kiêm sát việc khởi tố; quyết định khởi tố của Hội đồng xét xử phải được gửi tới Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra; yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử được gửi cho Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc truy tố.

–  Không được khởi tố vụ án hình sự hoặc nếu đã khởi tố vụ án hình sự thì phải hủy quyết định khởi tố khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự

Như vậy, bạn có thể gửi đơn kiến nghị sang Viện Kiểm Sát nhân dân cấp quận, huyện, thị xã hoặc Cơ quan công an thành phố Hà Nội để nghị khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của các đối tượng trên và yêu cầu Tòa án tuyên bồi thường thiệt hại cho bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê