Trên đường về đi qua chỗ cách nhà bố mẹ tôi 3km, thấy nhà ven đường đang xây dỡ, không có ai trông nom anh tôi đã về nhà bố mẹ mượn xe bò của hàng xóm lấy 47 thùng gạch của gia đình đang xây nhà đó. Sáng hôm sau, bố mẹ tôi thấy gạch trong nhà nhiều nên hỏi thì ảnh bảo gạch bạn cho làm nhà.Thiệt hại được đánh giá 9.200.000đ.

Sau khi bị công an bắt và giờ đã được về nhà, anh trai tôi đã trả lại số gạch lấy trộm, bồi thường cho gia đình bị hại, nhưng gia đình bị hại không lấy, họ lên phường ( nơi họ báo bị mất gạch) xin bãi nại cho anh trai tôi, xin giảm nhẹ cho anh tôi vì họ đã lấy lại được gạch, với lại hành vi lúc lấy trộm là say xỉn, lúc túng quẫn làm liều, nhưng công an phường bảo không giải quyết được đã chuyển hồ sơ lên thành phố, họ không nhận đơn xin bãi nại của người bị hại. Giờ công an Tp đã có quyết định khởi tố vụ án. Phía công an, lúc làm hồ sơ vụ án,đã bảo gia đình chúng tôi phải bỏ ra 5.000.000đ làm hồ sơ vụ án, giờ họ bảo phải chi cho họ 20.000.000 thì sẽ xử ra tòa bình thường nhưng chịu án treo 6 tháng, không được đi khỏi nơi cư trú. Còn không thì chịu từ 6 tháng đến 5 năm tù giam. Mà họ bảo 5 năm là chắc. Thiết nghĩ đã nghèo, làm nhà không có tiền mua ghạch, nên nghĩ quẫn, ai ngờ giờ xảy ra cơ sự này. Giờ mọi người trong nhà lòng như lửa đốt, số tiền 20.000.000đ giờ với gia đình tôi  rất lớn. Tính ra mua gạch làm nhà cũng đâu có tới số tiền này, mất danh dự, mất tiền, lại làm bố mẹ tôi lo lắng. Cái giả quá đắt phải trả cho hành động nông nỗi.

Mong luật sư tư vấn giúp tôi, giờ gia đình tôi nên làm thế nào. Kính mong luật sư giúp đỡ. Mong sớm nhận được hồi âm từ luật sư. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009)

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

-  Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12

2. Nội dung tư vấn:

Bạn thân mến, đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

 -  Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Có thể thấy, hành vi trên của anh bạn là phạm tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Như vậy, mặc dù có đơn bãi nại từ phía bị hại nhưng anh bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.

Theo như phân tích ở trên, anh trai bạn phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 138, mức án cao nhất anh bạn nhận được là 3 năm tù giam, chứ không phải năm năm tù giam. Tuy nhiên, anh trai của bạn có một số tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 BLHS 1999 như sau:

"b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h)  Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;"

Như vậy, Tòa án có thể căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức phạt cho anh bạn. Trường hợp của anh bạn, nếu có nhân thân tốt, có thể sẽ được hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 BLHS như sau:

"Điều 60.  Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người  được hưởng án  treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người  được hưởng án  treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

 5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Theo quy định tại Điều 21, Điều 22  Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12  Điều 98 BLTTHS thì chỉ khi bị kết án và có quyết định của Tòa án thì người phạm tội hình sự mới phải nộp án phí hình sự. Trước đó, trong giai đoạn chuẩn bị hồ sơ để khởi tố của cơ quan kiểm tra, sẽ không phải đóng bất cứ khoản án phí hay lệ phí nào. Như vậy yêu cầu của cơ quan công an là không có cơ sở pháp luật, là trái quy định pháp luật.

"Điều 98. Án phí

Án phí là tất cả chi phí để tiến hành tố tụng hình sự bao gồm tiền thù lao cho người làm chứng, người bị hại, người giám định, người phiên dịch, người bào chữa trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định và các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật; án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Điều 99. Trách nhiệm chịu án phi

1. án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật.

2. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Toà án.

3. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nếu Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại phải trả án phí."

Bất kỳ một vụ án hình sự nào đều được tiến hành theo quy trình được quy định tại BLTTHS và được xử công khai, minh bạch tại Toàn án, không có vụ án nào bị xử theo cách "không bình thường". Vì vậy, có thể thấy,hành vi của cơ quan điều tra là trái quy định pháp luật. Nếu có căn cứ chứng minh về những yêu cầu nêu trên, gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo về hành vi này của cơ quan công an theo quy định tại Luật tố cáo 2011: Theo quy định, thì khi phát hiện ra hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm cả hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong khi thi hành công vụ là trái với pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì công dân có thể tố cáo hành vi đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900 6162  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!      

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê